TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 117/2024/HNGĐ-ST Ngày: 14-5-2024 V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Trí Nguyên.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Tý và ông Lê Văn Hoàng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Huỳnh Hoa Lý – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lam Em – Kiểm sát viên
Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 586/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 75/2024/QÐST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Mỹ L, sinh năm 1988; Địa chỉ: Ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; Số điện thoại: 0786.198.xxx.
- Bị đơn: Anh Lê Văn C, sinh năm 1985; Địa chỉ: Ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; Số điện thoại: 0394.224.xxx.
Tại phiên tòa, chị Đặng Thị Mỹ L có mặt, anh Lê Văn C vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị Đặng Thị Mỹ L trình bày: Chị và anh Lê Văn C do mai mối rồi chung sống với nhau từ năm 2008, có tổ chức đám cưới và có đăng ký hết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc và có với nhau ba con chung tên Lê Thị Thanh T, sinh ngày 17/7/2008, Lê Văn N, sinh ngày 05/02/2010, Lê Văn T1, sinh ngày 30/7/2015. Tuy nhiên đến năm 2016, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do anh C có quan hệ tình cảm với người khác. Mặc dù, chị đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh C vẫn không thay đổi và vợ chồng đã ly thân từ năm 2016. Nay, chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu như sau:
Về hôn nhân: Chị Đặng Thị Mỹ L yêu cầu được ly hôn anh Lê Văn C;
Về con chung: Có ba con chung tên Lê Thị Thanh T, sinh ngày 17/7/2008, Lê Văn N, sinh ngày 05/02/2010, Lê Văn T1, sinh ngày 30/7/2015. Khi ly hôn chị Đặng Thị Mỹ L đồng ý giao ba con chung cho anh Lê Văn C nuôi dưỡng; chị không cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết;
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập bị đơn là anh Lê Văn C để tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Lê Văn C vắng mặt không rõ lý do nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh Lê Văn C cũng như không tiến hành hòa giải được.
Tòa án đã ban hành thông báo về việc thu thập được tài liệu, chứng cứ và thông báo cho anh Lê Văn C biết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình nhưng anh Lê Văn C cũng không có ý kiến phản hồi.
Do đó, Tòa án mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn chị Đặng Thị Mỹ L trình bày: Chị vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh Lê Văn C; đồng ý giao ba con chung cho anh Lê Văn C nuôi dưỡng; chị không cấp dưỡng cho con; về tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Lê Văn C vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Mỹ L
Về hôn nhân: Chị Đặng Thị Mỹ L được ly hôn với anh Lê Văn C.
Về con chung: Giao ba con chung tên Lê Thị Thanh T, sinh ngày 17/7/2008, Lê Văn N, sinh ngày 05/02/2010, Lê Văn T1, sinh ngày 30/7/2015 cho anh Lê Văn C trực tiếp nuôi dưỡng, chị Đặng Thị Mỹ L không cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung, nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
Về chi phí tố tụng và án phí: Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Chị Đặng Thị Mỹ L và anh Lê Văn C chung sống với nhau có đăng ký kết hôn (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 26, quyển số 01/2009 do Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh An Giang cấp ngày 10 tháng 3 năm 2009). Anh Lê Văn C có địa chỉ thường trú tại: Ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn theo quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Chị Đặng Thị Mỹ L khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Lê Văn C; giao các con chung cho anh Lê Văn C nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng cho con nên xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
Tại phiên tòa, chị Đặng Thị Mỹ L có mặt, anh Lê Văn C vắng mặt lần thứ hai không lý do nên căn cứ Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
[2] Xét việc tranh chấp:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Chị Đặng Thị Mỹ L và anh Lê Văn C xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 10 tháng 3 năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh An Giang theo đúng quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Chị Đặng Thị Mỹ L cho rằng mâu thuẫn vợ chồng xuất phát từ việc anh Lê Văn C không lo cho gia đình, có quan hệ tình cảm với người khác. Mặc dù, chị đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng đến nay anh C vẫn không thay đổi. Anh Lê Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án, không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Mỹ L và cũng không cung cấp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ thể hiện phản bác hay chấp nhận đối với yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Mỹ L cho thấy hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài.
Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Đặng Thị Mỹ L được ly hôn với anh Lê Văn C.
[2.2] Về con chung:
Chị Đặng Thị Mỹ L trình bày chị và anh Lê Văn C có ba con chung là Lê Thị Thanh T, sinh ngày 17/7/2008, Lê Văn N, sinh ngày 05/02/2010, Lê Văn T1, sinh ngày 30/7/2015, hiện tại các cháu đều đang sống cùng anh C phù hợp với Biên bản xác minh ngày 06/12/2023 của Tòa án. Quá trình giải quyết vụ án các cháu N, T, T1 cũng có nguyện vọng muốn tiếp tục sống cùng với anh C, chị L cũng đồng ý giao các con chung cho anh C nuôi dưỡng.
Xét thấy, việc giao các cháu Lê Thị Thanh T, Lê Văn N, Lê Văn T1 cho anh Lê Văn C tiếp tục nuôi dưỡng là cần thiết để không làm ảnh hưởng cuộc sống của các cháu.
Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Đặng Thị Mỹ L giao các cháu Lê Thị Thanh T, Lê Văn N, Lê Văn T1 cho anh Lê Văn C tiếp tục nuôi dưỡng.
[2.3] Về cấp dưỡng cho con:
Tòa án đã giải thích về nghĩa vụ cấp dưỡng đối với người không trực tiếp nuôi con theo quy định tại Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nhưng chị Đặng Thị Mỹ L vẫn không cấp dưỡng, anh Lê Văn C cũng không có yêu cầu chị Đặng Thị Mỹ L cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về tài sản chung:
Chị Đặng Thị Mỹ L trình bày không có tài sản chung, không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.5] Về nợ chung:
Chị Đặng Thị Mỹ L trình bày không có nợ chung, không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Như các phân tích nêu trên thì đề nghị của Viện kiểm sát về quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở chấp nhận.
[4] Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Mỹ L.
1. Về hôn nhân:
Chị Đặng Thị Mỹ L được ly hôn với anh Lê Văn C.
2. Về con chung:
Giao các cháu Lê Thị Thanh T, sinh ngày 17/7/2008, Lê Văn N, sinh ngày 05/02/2010, Lê Văn T1, sinh ngày 30/7/2015 cho anh Lê Văn C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Đặng Thị Mỹ L không cấp dưỡng cho con.
Chị Đặng Thị Mỹ L và các thành viên trong gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền được nuôi con của anh Lê Văn C. Anh Lê Văn C và các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở chị Đặng Thị Mỹ L trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Về quan hệ tài sản:
Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về nợ chung: Ghi nhận chị Đặng Thị Mỹ L xác định không có nợ chung. Tuy nhiên, sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của anh, chị trong thời kỳ sống chung thì chị Đặng Thị Mỹ L và anh Lê Văn C phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
4. Về án phí: Chị Đặng Thị Mỹ L phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013449 ngày 06 tháng 12 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn. Chị Đặng Thị Mỹ L đã nộp đủ. Anh Lê Văn C không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lâm Trí Nguyên |
Bản án số 117/2024/HNGĐ-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 117/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Về hôn nhân: Chị Đặng Thị Mỹ L yêu cầu được ly hôn anh Lê Văn C; Về con chung: Có ba con chung tên Lê Thị Thanh T, sinh ngày 17/7/2008, Lê Văn N, sinh ngày 05/02/2010, Lê Văn T1, sinh ngày 30/7/2015. Khi ly hôn chị Đặng Thị Mỹ L đồng ý giao ba con chung cho anh Lê Văn C nuôi dưỡng; chị không cấp dưỡng cho con. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết; Về nợ chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
