Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ GÒ CÔNG

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 117/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 12-7-2024

V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị An Thư.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Riều; ông Bành Quốc Trung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Kiều - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Gò Công.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Trường Bảo Vy, Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 31/2024/TLST-HNGĐ, ngày 06 tháng 3 năm 2024, về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 31 tháng 5 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 133/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 14 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Võ Thị Ngọc X, sinh năm 1975; (Xin vắng mặt)

Địa chỉ: khu phố H, Phường L, thành phố G, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Anh Lê Thành T, sinh năm 1971; (Vắng mặt)

Địa chỉ: khu phố H, Phường L, thành phố G, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải nguyên đơn chị Võ Thị Ngọc X trình bày: chị và anh Lê Thành T quen biết, tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, T là Phường L, thành phố G, Tiền Giang vào năm 1993. Vợ chồng sống hạnh phúc, đầm ấm đến khi hai con trưởng thành đã có sui gia, cháu nội, cháu ngoại thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chồng chị có người phụ nữ khác bên ngoài, không còn trở về nhà chung sống với chị. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Lê Thành T.

Về con chung: Hai con chung đã trưởng thành.

Về tài sản và nợ chung: tự thỏa thuận.

Bị đơn anh Lê Thành T không đến để trình bày ý kiến về việc xin ly hôn cũng như tài sản chung. Mặc dù anh T đã được tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng.

Tại phiên tòa:

- Chị Võ Thị Ngọc X có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Anh Lê Thành T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng Thông báo thụ lý, thông báo thu thập tài liệu chứng cứ, triệu tập mời hòa giải, dự phiên tòa lần thứ 2 nhưng anh H vẫn vắng mặt.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật. Đương sự X đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định pháp luật. Riêng đương sự T đã từ bỏ quyền tố tụng và không chấp hành nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ thẩm quyền theo quy định đối với những người tiến hành tố tụng.

- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị chấp nhận yêu cầu của chị X được ly hôn với anh T; Về con chung đã trưởng thành

Về tài sản chung và nợ chung: tự thỏa thuận.

Về án phí sơ thẩm thì chị X chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: chị Võ Thị Ngọc X khởi kiện xin ly hôn anh Lê Thành T có nơi cư trú khu phố H, Phường L, thành phố G, tỉnh Tiền Giang, nên Tòa án nhân dân thành phố Gò Công thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Lê Thành T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham dự phiên tòa, nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng, anh H có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung vụ án: Hội đồng xét xử xét thấy, chị Võ Thị Ngọc X và anh Lê Thành T tự nguyện tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, nên quan hệ hôn nhân giữa hai người được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Chị X và anh T sau khi sống chung hạnh phúc, đầm ấm một thời gian dài, đã có sui gia nhưng do tính tình thay đổi không còn chung thủy với chị X, chị X bất mãn nên yêu cầu Ly H1. Trong khoảng thời gian này tòa án có triệu tập và tống đạt các văn bản tố tụng về việc chị X xin ly hôn anh nhưng anh T không có ý kiến phản hồi và mong muốn tòa hòa giải để vợ chồng anh trở lại đoàn tụ. Điều này chứng minh rằng anh không còn muốn níu kéo cuộc hôn nhân này và không còn tha thiết cùng chung sống với chị X tình cảm vợ chồng đã phai nhạt, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần cho chị X được ly hôn với anh T là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.1] Về con chung: đã trưởng thành.

[2.2] Về tài sản chung: tự thỏa thuận

[2.3] Về nợ chung: tự thỏa thuận.

[3] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, chị Võ Thị Ngọc X chịu án phí theo quy định.

[4] Các đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật và phù hợp với những nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 và Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình.
  • - Khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
  • - Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH.14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Ngọc X.

- Về hôn nhân: Chị Võ Thị Ngọc X được ly hôn với anh Lê Thành T.

Về án phí sơ thẩm: chị Võ Thị Ngọc X phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai số 0000707 ngày 06 tháng 3 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Gò Công. Như vậy, chị X đã nộp xong án phí.

Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Án Tuyên kết thúc cùng ngày.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công;
  • - Chi cục thi hành án dân sự thành phố Gò Công;
  • - UBND Phường Long Hưng, Tp Gò Công;
  • - Các đương sự,
  • - Lưu hồ sơ. án văn.09.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị An Thư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 117/2024/HNGĐ-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 117/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: Chị Võ Thị Ngọc X, sinh năm 1975; (Xin vắng mặt) Địa chỉ: khu phố H, Phường L, thành phố G, tỉnh Tiền Giang. - Bị đơn: Anh Lê Thành T, sinh năm 1971; (Vắng mặt) Địa chỉ: khu phố H, Phường L, thành phố G, tỉnh Tiền Giang.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger