Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHỔ YÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 117/2024/HS-ST

Ngày: 06-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Xuân Lộc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Thanh
  2. Ông Nguyễn Hồng Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Trần Lê Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 92/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh T

(tên gọi khác: không có), sinh ngày 01 tháng 11 năm 1991 tại Thái Nguyên; nơi thường trú: tổ dân phố V, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp trước khi phạm tội: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị T1; có vợ là Vũ Thị N và 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không có.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/01/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Vũ Thị N, sinh năm: 1996; địa chỉ: tổ dân phố V, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Tuấn H, sinh năm 1991; địa chỉ: tổ dân phố V, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

- Người chứng kiến:

  1. Ông Trương Anh H1, sinh năm: 1971; địa chỉ: tổ dân phố C, phường N, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
  2. Ông Dương Quốc V, sinh năm: 1963; địa chỉ: tổ dân phố T, phường N, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thanh T là đối tượng nghiện ma tuý, trong một lần rửa xe ô tô taxi T phát hiện 01 gói nilon, có chất rắn màu trắng, T nghĩ là ma tuý đá nên cất mang về. Sau đó, T đổ chung với gói ma tuý đá T mua của 01 người nam giới không rõ nhân thân, lai lịch tại khu vực cây xăng gần nút giao cao tốc lối ra khu công nghiệp Y để sử dụng dần. Khoảng 12 giờ 20 phút ngày 08/01/2024 khi T đang ở nhà tại tổ dân phố V, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên thì có một người nam giới dùng số điện thoại 0568.590.xxx của Nguyễn Tuấn H (sinh năm 1991; trú tại tổ dân phố V, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên) gọi đến số điện thoại 0982.322.xxx của T nói “ông lấy hộ tôi ít đồ” thì T nghĩ người này là H và hiểu ý người này hỏi mua ma túy của T. T hỏi người này muốn lấy bao nhiêu thì người này bảo 500.000 đồng. T bảo người này cho thêm T 20.000 đồng để đổ xăng thì người này đồng ý và hẹn giao dịch ở gần phòng trọ của H tại tổ dân phố C, phường N, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Sau đó, T mang tất cả số ma túy T có cho vào túi áo khoác bên trái đang mặc rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, biển kiểm soát 15B2-58562 mang đi bán cho người này. Khi đến đoạn đường rẽ vào phòng trọ của H ở khu vực tổ dân phố T, phường N thì T gặp tổ công tác của Công an phường N yêu cầu kiểm tra. Do lo sợ nên T đã nhảy khỏi xe mô tô nên gói ma túy bị rơi xuống đường. Quá trình làm việc, T đã tự nguyện nhặt gói ma túy lên giao nộp cho tổ công tác và thừa nhận toàn bộ hành vi của mình. Sau đó, tổ công tác của Công an phường N đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T, niêm phong thu giữ vật chứng gồm: 01 gói nilon màu trắng, bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh đen lắp sim số thuê bao 0982 322 044; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đen mang biển kiểm soát 15B2-58562 rồi đưa T cùng toàn bộ vật chứng thu giữ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P để giải quyết theo thẩm quyền.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P phối hợp với Phòng K Công an tỉnh T tiến hành cân khối lượng số chất rắn dạng tinh thể màu trắng thu giữ Nguyễn Thành T2 được 0,278 gam (niêm phong ký hiệu K gửi giám định). Tại bản kết luận giám định số 205 ngày 16/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu K gửi giám định là chất ma túy, Methamphetamine, có khối lượng thu giữ ban đầu là 0,278 gam.

Tại bản cáo trạng số 98/CT-VKSPY ngày 17/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với các tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Đề nghị áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Thanh T từ 30 - 36 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma tuý, vỏ bao gói kèm theo; tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone của Nguyễn Thanh T.

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, kết luận giám định và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ xác định: Do hám lợi, ngày 08/01/2024 tại tổ dân phố T, phường N, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Thanh T đã có hành vi tàng trữ 0,278 gam ma túy loại Methamphetamine mục đích để bán kiếm lời thì bị Công an phường N phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Bản cáo trạng số 98/CT-VKSPY ngày 17/6/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Nội dung Điều 251 quy định:

Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma tuý

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm...

[3] Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và vai trò các bị cáo thì thấy:

Về nhân thân: Quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Do đó bị cáo là người có nhân thân tốt.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử thấy có căn cứ cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là:“Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, yếu tố về nhân thân của bị cáo khi quyết định hình phạt thì thấy:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy. Bị cáo đủ nhận thức để nhận biết được tác hại của ma túy gây ra cho bản thân, gia đình và xã hội nhưng vẫn cố ý phạm tội với mục đích trục lợi. Do đó, cần phải bị xử lý nghiêm khắc, áp dụng hình phạt tù giam, buộc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét thấy, mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo tại phiên tòa là phù hợp được chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội nhằm mục đích thu lợi bất chính nên cần phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền nhất định sung công quỹ Nhà nước.

[6] Về vật chứng: Số ma tuý còn lại sau giám định và vỏ bao gói kèm theo là vật cấm lưu hành, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu huỷ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax là phương tiện Nguyễn Thanh T dùng để liên lạc bán ma tuý nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[7] Về chi phí tố tụng: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[8] Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[9] Các vấn đề khác của vụ án: Trong vụ án này, Nguyễn Tuấn H khai vào ngày 08/01/2024, H ở phòng trọ tại tổ dân phố C, phường N, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên thì có một số người bạn nghiện ma túy đến chơi (H không biết họ tên và địa chỉ của những người này). Một người trong đó đã mượn điện thoại của H để gọi nhưng H không biết gọi cho ai, làm gì. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý đối với H.

Đối với số tiền 700.000 đồng được chuyển vào tài khoản ngân hàng của Nguyễn Thanh T thời điểm ngày 08/01/2024, quá trình điều tra xác định được chuyển từ tài khoản ngân hàng của chị Trịnh Thị Y (sinh năm 1989; trú tại tổ dân phố C, phường N, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên). Qua làm việc, chị Y khai làm nghề bán hàng tạp hóa, hàng ngày có nhiều khách đến mua hàng và nhờ chuyển khoản, chị Y không nhớ ai đã nhờ chuyển khoản số tiền 700.000 đồng đến tài khoản của T và không biết mục đích để làm gì. T khai số tiền 700.000 đồng là tài sản của T, không liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy.

Về nguồn gốc số ma túy thu giữ của Nguyễn Thanh T, T khai do một lần rửa xe ô tô taxi T không rõ biển kiểm soát thì thấy sàn xe có một gói nilon bên trong có chất rắn dạng tinh thể màu trắng, T nghĩ là ma túy đá nên đã mang về và cho chung vào với số ma túy đá T đã mua trước đó của một người nam giới không rõ nhân thân, lai lịch để sử dụng nhưng chưa hết. Cơ quan điều tra không có căn cứ xác định người đã bán ma túy cho T.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ Điều 106; Điều 329, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý

2. Về hình phạt:

2.1. Về hình phạt chính: Xử phạt Nguyễn Thanh T 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/01/2024.

Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Thanh T 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2.2. Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước

3. Về vật chứng:

- Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu K ghi hoàn trả 0,197 gam mẫu K còn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu L ghi mẫu lưu kho;

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh đen, đã qua sử dụng niêm phong trong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu T3

Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố P và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên ngày 21/6/2024.

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thanh T phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt, niêm yết bản án theo quy định./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND thành phố Phổ Yên;
  • - Chi cục THADS TP Phổ Yên;
  • - Công an thành phố Phổ Yên;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Bị cáo;
  • - Người TGTT khác (nếu có);
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Hoàng Xuân Lộc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 117/2024/HS-ST ngày 06/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 117/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: mua bán trái phép
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger