|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 117/2024/HS-ST Ngày 06-5-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Lập Tiến
2. Ông Trương Vĩnh Mai
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hà - Thư ký Toà án nhân dân TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Lệ Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 101/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Họ và tên: NGUYỄN THỊ HOÀI HƯƠNG.
- Họ và tên: LÊ HỮU LINH.
Sinh ngày 01 tháng 9 năm 1982, tại: Tỉnh Quảng Nam.
Nơi thường trú: Thôn C, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Nơi ở hiện nay: Số A đường Y, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Giới tính: Nữ. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Buôn bán;Trình độ học vấn: 08/12; Con ông: Nguyễn Duy B, sinh năm 1962, Con bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1962. Bị cáo có chồng là ông Vũ Chiến T, sinh năm 1989 và 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 28/5/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Ea H'leo, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 23/9/2017 chấp hành xong hình phạt.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/11/2023 cho đến nay – Có mặt tại phiên tòa.
Sinh ngày 07 tháng 9 năm 1994, tại: Tỉnh Đắk Lắk.
Nơi cư trú: Số A đường N, tổ dân phố E, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: Lê Hữu D, sinh năm 1965, Con bà: Lê Thị Thúy H, sinh năm 1967. Bị cáo có vợ là Trương Thị N (Đã chết) và 01 người con, sinh năm 2016. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/11/2023 cho đến nay – Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
- Ông Vũ Đức P - Sinh năm 1959 (Vắng mặt).
- Ông Trần Minh D1 - Sinh năm 1987 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Buôn H, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Nơi ở hiện nay: Số A đường A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Bùi Ngọc P1 – Sinh năm: 1961 (Vắng mặt).
- Ông Vũ Văn C - Sinh năm 1991 (Vắng mặt).
- Bà Phan Thị M - Sinh năm 1962 (Vắng mặt).
- Ông Nguyễn Như L1 - Sinh năm 1985 (Vắng mặt).
- Bà Lê Thị H1 – Sinh năm: 1959 (Vắng mặt).
- Bà Hà Thị P2 - Sinh năm 1978 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số A đường Y, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Địa chỉ: Số F G, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Địa chỉ: Thôn C, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Địa chỉ: Tổ dân phố B, phường Đ, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.
Địa chỉ: Thôn T, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Địa chỉ: Buôn H, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
- Người làm chứng: Ông Phan Đình H2 - Sinh năm 1994 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số D đường L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Thị Hoài H3 và Lê Hữu L2 đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 16 giờ ngày 13/11/2023, Lê Hữu L2 ghé phòng trọ của Nguyễn Thị Hoài H3 chơi, H3 rủ L2 đi trộm cắp tài sản thì L2 đồng ý. Sau đó, L2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Sirius, màu đỏ đen, biển số 47B1-817.45, số máy: 5C6H094484, số khung: RLCS5C6H0EY04474, chở H3 mang theo 01 chiếc giỏ xách bằng nhựa nhiều màu, 01 chiếc kìm, 01 con dao và 02 chiếc bao tải bằng sợi nhựa, lưu thông theo hướng đường M rẽ vào đường A, thành phố B, đến khu vực thuộc Buôn H, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk tìm nhà người dân sơ hở trộm cắp tài sản. Khoảng 17 giờ cùng ngày, khi đi đến căn nhà của ông Vũ Đức P, thấy không có người trông coi nên L2 dừng xe lại, dựng phía bên ngoài. Sau đó, L2 và H3 đi đến mở cổng, đi vào phía sau nhà ông P thì nhìn thấy trên miệng giếng nước có một cần trục tay quay. Lúc này, H3 quay trục quay còn L2 dùng tay kéo ống nước và dây cáp nối với máy bơm nước phía dưới giếng. Khoảng 15 đến 20 phút sau, L2 và H3 kéo được chiếc máy bơm nước ở dưới giếng lên đến mặt giếng, L2 dùng tay tháo cùm khóa ống nước còn H3 dùng dao chặt đứt dây điện ngay sát vị trí nối với máy bơm nước, bỏ máy bơm nước này vào bao tải mang theo. Sau đó, L2 điều khiển xe mô tô biển số 47B1-817.45 chở H3 ôm chiếc máy bơm nước vừa trộm cắp được đến bán cho anh Vũ Văn C, được số tiền 600.000 đồng. Do chưa có tiền nên anh C hẹn H3 sang ngày hôm sau sẽ trả thì H3 đồng ý.
Tại Kết luận định giá tài sản số 24/KL-HĐĐGTS ngày 01/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, xác định: 01 chiếc máy bơm nước, hình trụ đứng, kích thước (50x17)cm, chu vi thân 45cm, khối lượng 11kg, trị giá 700.000 đồng.
Vụ thứ hai: Khoảng 18 giờ ngày 13/11/2023, Lê Hữu L2 điều khiển xe mô tô biển số 47B1-817.45 chở Nguyễn Thị Hoài H3 đi trộm cắp tài sản. Khoảng 18 giờ 10 phút cùng ngày, H3 và L2 đi đến trước khu vực nhà rẫy của anh Trần Minh D1 nhìn thấy cổng sân khóa, không có người trông coi. Thấy vậy, H3 và L2 dựng xe ngoài đường rồi đi vòng ra phía sau căn nhà, thấy có một hàng rào bằng lưới B40, L2 dùng chiếc kìm mang theo để mở lưới B40, đột nhập vào bên trong. Khi vào bên trong căn nhà, L2 và H3 thấy trong khu vực bếp để tài sản, gồm: 01 máy cưa xích, động cơ hai thì, có phần thân máy màu đỏ đen, trên thân máy ghi nhãn hiệu JAPAN MODEL YATAKA G7, phần lưỡi cưa có gắn xích, ghi nhãn hiệu YATAKA 20 375 063, kích thước thân máy (90x23)cm, kích thước lưỡi cưa (50x10)cm; 01 máy mài cầm tay bằng điện, thân máy màu đỏ - đen - bạc, có nhãn hiệu KEN 9950D, kích thước (42x8)cm, có chiều dài dây điện nối phía đuôi máy dài 2,4 mét; 01 máy chà rung bằng điện, thân máy màu xanh - đen, nhãn hiệu Makita BO3710, kích thước (25x15)cm, có chiều dài dây điện nối phía đuôi máy dài 1,6 mét; 01 máy mài hai đầu, thân máy màu xanh, không rõ nhãn hiệu, kích thước thân máy (40x23)cm, có chiều dài dây điện nối phía đuôi máy dài 1,6 mét nên H3 và L2 lén lút trộm cắp các tài sản trên bỏ vào túi xách mang theo. Tiếp đó,
L2 và H3 đi ra khu vực phía trước của căn nhà, trộm cắp 01 chiếc máy mô tơ, hình trụ, kích thước (43x26)cm, chu vi thân 80cm, khối lượng 53kg và 04 chiếc camera, màu trắng, nhãn hiệu 800TVL 3.6MM CAMERA, MODEL 5ABT01i. Sau đó, L2 điều khiển xe mô tô biển số 47B1-817.45 chở H3 ngồi sau ôm các tài sản trộm cắp được tại nhà của anh D1 về cất giấu tại phòng trọ của H3, ở địa chỉ: A Y, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Trong quá trình tẩu thoát, H3 đã làm rơi mất 03 chiếc camera đã trộm cắp được. Đến khoảng 08 giờ ngày 14/11/2023, H3 điều khiển xe mô tô biển số 47B1-817.45 chở chiếc máy mô tơ trộm cắp được tại nhà anh D1, đến bán cho anh Vũ Văn C với số tiền 1.000.000 đồng. Anh C trả đủ cho H3 tổng số tiền 1.600.000 đồng, gồm tiền mua máy bơm nước và máy mô tơ trên. Sau khi nhận tiền, H3 chia cho L2 số tiền 400.000 đồng, số tiền còn lại H3 giữ tiêu xài hết.
Đến ngày 16/11/2023, H3 liên hệ với anh Phan Đình H2, để gửi bán cho anh Nguyễn Như L1 các tài sản gồm: 01 máy cưa xích màu đỏ, 01 máy mài cầm tay màu đỏ, 01 máy chà rung màu xanh, 01 máy mài hai đầu màu xanh và 01 chiếc máy cưa điện cầm tay chạy pin (chiếc máy này H3 mua lại của người khác (không rõ nhân thân, lai lịch), không phải tài sản mà H3, L2 đã trộm cắp), được tổng số tiền 1.950.000 đồng. Sau khi nhận tiền, H3 chia cho L2 600.000 đồng, số tiền còn lại H3 giữ tiêu xài hết.
Tại Kết luận định giá tài sản số 24/KL-HĐĐGTS ngày 01/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, xác định: 01 chiếc máy mô tơ, hình trụ, kích thước (43x26)cm, chu vi thân 80cm, khối lượng 53kg, trị giá 1.000.000 đồng. 01 máy cưa xích, động cơ hai thì, có phần thân máy màu đỏ đen, trên thân máy ghi nhãn hiệu JAPAN MODEL YATAKA G7, phần lưỡi cưa có gắn xích, ghi nhãn hiệu YATAKA 20 375 063, kích thước thân máy (90x23)cm, kích thước lưỡi cưa (50x10)cm, trị giá 1.200.000 đồng. 01 máy mài cầm tay bằng điện, thân máy màu đỏ - đen - bạc, có nhãn hiệu KEN 9950D, kích thước (42x8)cm, có chiều dài dây điện nối phía đuôi máy dài 2,4 mét, trị giá 450.000 đồng. 01 máy chà rung bằng điện, thân máy màu xanh - đen, nhãn hiệu Makita BO3710, kích thước (25x15)cm, có chiều dài dây điện nối phía đuôi máy dài 1,6 mét, trị giá 600.000 đồng. 01 máy mài hai đầu, thân máy màu xanh, không rõ nhãn hiệu, kích thước thân máy (40x23)cm, có chiều dài dây điện nối phía đuôi máy dài 1,6 mét, trị giá 300.000 đồng. 01 chiếc camera, màu trắng, nhãn hiệu 800TVL 3.6MM CAMERA, MODEL 5ABT01i, trị giá 300.000 đồng. 03 chiếc camera, màu trắng, nhãn hiệu 800TVL 3.6MM CAMERA, MODEL 5ABT0li, chưa thu hồi được, trị giá 900.000 đồng. Tổng giá trị các tài sản bị chiếm đoạt là 4.750.000 đồng.
Ngoài thực hiện 02 vụ trộm cắp trên với Lê Hữu L2, Nguyễn Thị Hoài H3 còn một mình thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản khác. Cụ thể:
Khoảng 01 giờ ngày 16/11/2023, Nguyễn Thị Hoài H3 điều khiển xe mô tô biển số 47B1-817.45, mang theo 02 bao tải sợi nhựa đến nhà của chị Hà Thị P2 để trộm cắp cà phê. Khi đến nơi, H3 dựng xe phía ngoài đường rồi đi vào trong sân phía trước nhà chị P2, lén lút trộm cắp cà phê vối (robusta) nguyên vỏ, đang phơi
trong bạt phía trước sân nhà, cho vào 02 bao tải mà H3 đem theo. Sau đó, H3 điều khiển xe mô tô biển số 47B1-817.45 chở 02 bao cà phê về cất giấu tại phòng trọ của H3, ở địa chỉ: A Y, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, H3 điều khiển xe mô tô 47B1-817.45 chở 02 bao cà phê trộm cắp được đến tiệm thu mua cà phê H của bà Lê Thị H1 để bán. Tại đây, H3 và bà Hà cân số lượng cà phê này được 73kg cà phê vối (robusta), tươi nguyên vỏ, với giá 14.000 đồng/01kg, bà H1 đưa cho H3 số tiền 1.050.000 đồng và H3 tiêu xài cá nhân hết. Sau đó, bà H1 đã bán cho người khác (không rõ nhân thân, lai lịch).
Tại Kết luận định giá tài sản số 25/KL-HĐĐGTS ngày 02/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, xác định: 73kg cà phê vối (robusta), quả tươi nguyên vỏ, trị giá 1.095.000 đồng.
Cáo trạng số 114/CT-VKS-HS ngày 05/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Nguyễn Thị Hoài H3, Lê Hữu L2 về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà các bị cáo Nguyễn Thị Hoài H3, Lê Hữu L2 thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và đúng theo nội dung bản cáo trạng đã truy tố.
Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Hoài H3, Lê Hữu L2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Hoài H3 từ 15 (Mười lăm) tháng đến 18 (Mười tám) tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Hữu L2 từ 09 (Chín) tháng đến 12 (Mười hai) tháng tù.
Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đối với 01 chiếc máy bơm nước, hình trụ đứng, kích thước (50x17)cm, chu vi thân 45cm, khối lượng 11kg: Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của ông Vũ Đức P. Ngày 14/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc máy bơm nước cho ông P quản lý, sử dụng.
Đối với các tài sản gồm: 01 chiếc máy mô tơ, 01 máy cưa xích, 01 máy mài cầm tay bằng điện, 01 máy chà rung bằng điện, 01 máy mài hai đầu, 01 chiếc camera: Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của anh Trần Minh D1. Ngày 14/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra quyết định xử lý vật chứng trao trả các tài sản trên cho anh D1 quản lý, sử dụng.
Đối với 01 chiếc kìm, 01 con dao và 01 chiếc túi xách, đều là tài sản của bị cáo Nguyễn Thị Hoài H3, sử dụng vào mục đích thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5s, là tài sản của bị cáo Nguyễn Thị Hoài H3 sử dụng liên lạc với anh Nguyễn Như L1 để tiêu thụ các tài sản đã trộm cắp được nên cần tịch thu, sung ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 máy cưa điện cầm tay sạc pin (không kèm theo pin), thân máy màu đỏ đen, ghi nhãn hiệu LITHIUM, kích thước (30x15)cm, là tài sản bị cáo Nguyễn Thị Hoài H3 đã thu mua của người khác và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, màu bạc, số Imei: 355693073523006, của bị cáo Lê Hữu L2, không dùng vào mục đích phạm tội. Ngày 14/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra quyết định xử lý vật chứng trao trả các tài sản trên cho các bị cáo H3, L2 quản lý, sử dụng.
Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu sơn đỏ đen, số máy: 5C6H094484, số khung: RLCS5C6H0EY04474, biển số 47B1-817.45: Quá trình điều tra xác định, chiếc xe mô tô biển số 47B-817.45 là tài sản hợp pháp của bà Phan Thị M. Khoảng đầu năm 2022, bà M cho bị cáo H3 mượn sử dụng chiếc xe mô tô trên làm phương tiện đi lại, không biết việc bị cáo H3 sử dụng chiếc xe mô tô trên làm phương tiện đi trộm cắp tài sản. Ngày 14/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra quyết định xử lý vật chứng trao trả tài sản trên cho bà Phan Thị M quản lý, sử dụng.
Đối với 03 camera, sau khi trộm cắp được tài sản của anh Trần Minh D1, bị cáo H3 đã làm rơi, không nhớ địa điểm cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không thu giữ được.
Đối với 73kg cà phê vối (robusta), tươi nguyên vỏ, đựng trong 02 bao tải bằng sợi nhựa, sau khi trộm cắp được tài sản của chị Hà Thị P2, bị cáo H3 đã mang đi bán cho bà H1 và bà H1 đã bán cho người khác (không rõ nhân thân, lai lịch) nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản, ông Vũ Đức P không yêu cầu các bị cáo Nguyễn Thị Hoài H3, Lê Hữu L2 phải bồi thường gì thêm.
Sau khi nhận lại tài sản, ông Trần Minh D1 yêu cầu các bị cáo Nguyễn Thị Hoài H3, Lê Hữu L2 bồi thường cho ông D1 số tiền 900.000 đồng là tổng giá trị của 03 chiếc camera không thu hồi được theo định giá tài sản, là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
Bị cáo Nguyễn Thị Hoài H3 đã bồi thường cho bà Hà Thị P2 số tiền 1.950.000 đồng nên bà P2 không yêu cầu bị cáo H3 phải bồi thường gì thêm.
Ông Vũ Văn C yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị Hoài H3 bồi thường cho ông C số tiền 1.600.000 đồng mà ông C đã đưa cho H3 khi mua 01 chiếc máy bơm nước và 01 chiếc máy mô tơ, là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
Ông Nguyễn Như L1 yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị Hoài H3 bồi thường cho ông L1 số tiền 1.950.000 đồng mà ông L1 đã đưa cho H3 khi mua các tài sản vào ngày 16/11/2023, là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
Các nội dung khác:
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo Nguyễn Thị Hoài H3, Lê Hữu L2: Ngày 21/11/2023, Công an thành phố B ra quyết định xử phạt hành chính, bằng hình thức cảnh cáo, là đúng quy định pháp luật.
Đối với hành vi trộm cắp tài sản là 73kg cà phê vối (robusta), tươi nguyên vỏ vào ngày 16/11/2023 của bị cáo Nguyễn Thị Hoài H3, có giá trị dưới 2.000.000 đồng. Bị cáo H3 chưa có tiền án và chưa bị xử phạt hành chính về các tội chiếm đoạt tài sản. Ngày 18/3/2024, Công an thành phố B ra quyết định xử phạt hành chính, bằng hình thức phạt tiền, số tiền 2.500.000 đồng đối với Nguyễn Thị Hoài H3, là đúng quy định pháp luật.
Đối với bà Phan Thị M, là chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển số 47B1-817.45 nhưng không biết bị cáo Nguyễn Thị Hoài H3 sử dụng chiếc xe vào việc trộm cắp tài sản. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với bà Phan Thị M là phù hợp.
Đối với ông Vũ Văn C, ông Nguyễn Như L1 và bà Lê Thị H1, là những người mua các tài sản từ các bị cáo Nguyễn Thị Hoài H3, Lê Hữu L2 nhưng ông C, anh L1 và bà H1 không biết các tài sản trên là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh Vũ Văn C, anh Nguyễn Như L1 và bà Lê Thị H1 là phù hợp.
Đối với anh Phan Đình H2, là lái xe chuyển hàng giúp bị cáo Nguyễn Thị Hoài H3 nhưng không biết các tài sản trên là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh Phan Đình H2 là phù hợp.
Đối với địa điểm là phòng trọ số 1, địa chỉ: A Y, phường E, TP B, tỉnh Đắk Lắk do ông Bùi Ngọc P1 là chủ phòng trọ: Ông P1 không biết việc bị cáo H3 cất giấu tài sản trộm cắp trong phòng trọ và số tiền 1.100.000 đồng bị cáo H3 trả tiền phòng trọ ông P1 thì ông P1 không biết nguồn gốc số tiền nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
[8] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Thị Hoài H3, Lê Hữu L2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị Hoài H3, Lê Hữu L2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Hoài H3 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Hữu L2 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 584, Điều 586, Điều 589 Bộ luật Dân sự.
Về xử lý vật chứng:
Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố B đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 chiếc máy bơm nước, hình trụ đứng, kích thước (50x17)cm, chu vi thân 45cm, khối lượng 11kg cho ông Vũ Đức P là chủ sở hữu nhận quản lý, sử dụng.
Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố B đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 chiếc máy mô tơ, 01 máy cưa xích, 01 máy mài cầm tay bằng điện, 01 máy chà rung bằng điện, 01 máy mài hai đầu, 01 chiếc camera cho ông Trần Minh D1 là chủ sở hữu nhận quản lý, sử dụng.
Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố B đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 máy cưa điện cầm tay sạc pin (không kèm theo pin), thân máy màu đỏ đen, ghi nhãn hiệu LITHIUM, kích thước (30x15)cm cho bị cáo Nguyễn Thị Hoài H3 và trả 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, màu bạc, số Imei: 355693073523006 cho bị cáo Lê Hữu L2 là chủ sở hữu nhận quản lý, sử dụng.
Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố B đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu
sơn đỏ đen, số máy: 5C6H094484, số khung: RLCS5C6H0EY04474, biển số 47B1-817.45 cho bà Phan Thị M là chủ sở hữu nhận quản lý, sử dụng.
Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc kìm bằng kim loại, vỏ bọc tay cầm bằng nhựa màu đỏ, kích thước (18x4)cm; 01 con dao có lưỡi dao bằng kim loại, kích thước (30x3)cm, gắn với phần cán dao bằng gỗ (không xác định), kích thước (3x13)cm và 01 túi xách bằng nhựa, nhiều màu, có quai cầm hai bên, kích thước (45x20x33)cm.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5s, màu đen, số Imei 868683042986533.
(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/4/2024 giữa Công an thành phố B và Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột).
Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận việc bị cáo Nguyễn Thị Hoài H3 đã bồi thường cho bà Hà Thị P2 số tiền 1.950.000 đồng (Một triệu chín trăm năm mươi ngàn đồng), bà Hà Thị P2 không yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị Hoài H3 phải bồi thường gì thêm.
Buộc bị cáo Nguyễn Thị Hoài H3, Lê Hữu L2, mỗi bị cáo phải bồi thường cho ông Trần Minh D1 số tiền 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi ngàn đồng).
Buộc bị cáo Nguyễn Thị Hoài H3, Lê Hữu L2, mỗi bị cáo phải bồi thường cho ông Vũ Văn C số tiền 800.000 đồng (Tám trăm ngàn đồng).
Buộc bị cáo Nguyễn Thị Hoài H3, Lê Hữu L2, mỗi bị cáo phải bồi thường cho ông Nguyễn Như L1 số tiền 975.000 đồng (Chín trăm bảy mươi lăm ngàn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Nguyễn Thị Hoài H3, Lê Hữu L2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo Nguyễn Thị Hoài H3, Lê Hữu L2, mỗi bị cáo phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Hạnh |
Bản án số 117/2024/HS-ST ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 117/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Hoài H và đồng bọn Trộm cắp tài sản
