Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIỒNG TRÔM

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 117/2024/DS-ST

Ngày: 04/9/2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Võ Thế Trang Đền.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Cảnh
  2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan

Thư ký phiên toà: Ông Lê Kiến Hòa – Thư ký Toà án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Duyên Em - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 177/2024/TLST-DS ngày 12 tháng 4 năm 2024 về: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 163/2024/QÐST-DS ngày 29 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 313/2024/QÐST-DS ngày 13/8/2024, giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Ngân hàng N.
  • Địa chỉ: Số B, đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
  • Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V, Chức vụ: Tổng giám đốc
  • Chi nhánh thực hiện khởi kiện: Chi nhánh huyện G, tỉnh Bến Tre.
  • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T, chức vụ: Giám đốc
  • Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Lê Minh K, chức vụ: Phó Giám đốc
  • * Bị đơn: Ông Phan Quốc M, sinh năm 1955 và bà Đoàn Hồng T1, sinh năm 1946.
  • Cùng địa chỉ: ấp A, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre.
  • (Ông K có mặt, ông M và bà T1 vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 19/3/2024, bản tự khai cùng các văn bản, tài liệu chứng cứ cung cấp cho Tòa án cũng như tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng của nguyên đơn là ông Lê Minh K trình bày:

Ông Phan Quốc M và bà Đoàn Hồng T1 có vay vốn tại A Chi nhánh huyện G theo Hợp đồng tín dụng sau:

  • *Số hợp đồng tín dụng thứ nhất: 7107LAV202203419 ngày 06/05/2022
    • + Số tiền vay là: 800.000.000 đồng (Bằng chữ: Tám trăm triệu đồng)
    • + Mục đích vay: Cải tạo vườn; chăn nuôi bò, dê
    • + Giải ngân ngày: 11/05/2022; thời hạn vay: 60 tháng
    • + Kỳ hạn trả nợ: 5 kỳ như sau:
      • Kỳ 1: 10/05/2023: 70.000.000 đồng
      • Kỳ 2: 10/05/2024: 90.000.000 đồng
      • Kỳ 3: 10/05/2025: 100.000.000 đồng
      • Kỳ 4: 10/05/2026: 130.000.000 đồng
      • Kỳ 5: 10/05/2027: 410.000.000 đồng
    • + Ngày trả nợ cuối cùng: 10/05/2027
    • + Lãi suất: 9,5%/năm, lãi suất thả nổi.
    • + Lãi suất quá hạn: 150% với lãi suất vay đã thỏa thuận.
    • + Dư nợ hiện tại: 730.000.000 đồng
  • *Số hợp đồng tín dụng thứ hai: 7107LAV202203420 ngày 06/05/2022
    • + Số tiền vay là: 700.000.000 đồng (Bằng chữ: Bảy trăm triệu đồng)
    • + Mục đích vay: Sửa nhà, mua sắm vật dùng gia đình, đồ trang trí nội thất
    • + Giải ngân ngày: 11/05/2022; thời hạn vay: 60 tháng
    • + Kỳ hạn trả nợ: 5 kỳ
      • Kỳ 1: 10/05/2023: 100.000.000 đồng
      • Kỳ 2: 10/05/2024: 100.000.000 đồng
      • Kỳ 3: 10/05/2025: 100.000.000 đồng
      • Kỳ 4: 10/05/2026: 130.000.000 đồng
      • Kỳ 5: 10/05/2027: 270.000.000 đồng
    • + Ngày trả nợ cuối cùng: 10/05/2027
    • + Lãi suất: 9,5%/năm, lãi suất thả nổi.
    • + Lãi suất quá hạn: 150% với lãi suất vay đã thỏa thuận.
    • + Dư nợ hiện tại: 600.000.000 đồng

Sau khi ký hợp đồng tín dụng, Ngân hàng N - Chi nhánh huyện G Bến Tre đã giải ngân toàn bộ số tiền cho vay đúng theo Hợp đồng tín dụng số: 7107LAV202203419 ngày 06/05/2022 và Hợp đồng tín dụng số 7107LAV202203420 ngày 11/05/2022, mà hai bên đã ký kết.

Để bảo đảm tiền vay thực hiện theo Hợp đồng sau: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 2022.07.08.111/HĐTC ngày 06/05/2022: Giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản: Giấy chứng nhận QSDĐ số: CA 173518 thửa 24, tờ bản đồ số 25 diện tích 2.548,1m² do UBND huyện G cấp ngày 21/07/2015 và Giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản: Giấy chứng nhận QSDĐ số: BD 447369 thửa 442, tờ bản đồ số 25 diện tích 2.873,8 m² do UBND huyện G cấp ngày 23/02/2011, do ông M, bà T1 đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Hợp đồng thế chấp nêu trên đã được chứng thực ngày 06/05/2022 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre và đăng ký giao dịch đảm bảo ngày 10/05/2022 tại văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện G, tỉnh Bến Tre.

Quá trình thực hiện hợp đồng:

- Ông Phan Quốc M, bà Đoàn Hồng T1 đã thực hiện thanh toán cho A Chi nhánh huyện G, tỉnh Bến Tre 01 kỳ trả nợ gốc với tổng số tiền gốc đã thanh toán là 170.000.000 đồng. Từ tháng 09/2023, ông M không thực hiện trả lãi cho ngân hàng. A nhiều lần làm việc, yêu cầu Ông M1 thực hiện thanh toán lãi cho ngân hàng. Ông M1 cam kết nhưng không thực hiện, cố tình trì hoãn, sau đó tránh né không tiếp xúc với nhân viên ngân hàng để cam kết trả nợ, và không có thiện chí trả nợ. Hiện tại Ông M1, bà T1 đã vi phạm hợp đồng tín dụng do vi phạm thỏa thuận trả nợ.

Tạm tính đến ngày 11/06/2024, Ông M1, bà T1 còn nợ tại Ngân hàng N - Chi nhánh huyện G số tiền cụ thể là: Số tiền gốc: 1.330.000.000 đồng; Số tiền lãi trong hạn: 126.541.726 đồng và số tiền lãi quá hạn: 887.671 đồng.

Căn cứ hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp đã được ký kết giữa các bên, A thông qua A chi nhánh huyện G yêu cầu Tòa án tuyên buộc như sau:

  1. Buộc ông Phan Quốc M, bà Đoàn Hồng T1 có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho Ngân hàng N (do Chi nhánh huyện G đại diện nhận) tổng số tiền tính đến ngày 11/06/2024 là 1.457.429.397 đồng (Bằng chữ: Một tỷ bốn trăm năm mươi bảy triệu bốn trăm hai mươi chín ngàn ba trăm chín mươi bảy đồng), trong đó số tiền gốc: 1.330.000.000đồng, số tiền lãi trong hạn: 126.541.726 đồng, số tiền lãi quá hạn: 887.671 đồng.

Tiền lãi vay phát sinh trên dư nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nêu trên từ ngày 12/06/2024 cho đến ngày thanh toán hết nợ.

  1. Trường hợp Ông M, bà T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng N được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên bán đấu giá các tài sản của Ông M, bà T1 đã thế chấp với Ngân hàng để thanh toán hết nợ.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện phía Ngân hàng vẫn bổ sung yêu cầu khởi kiện về việc tính lãi, yêu cầu ông ông Phan Quốc M, bà Đoàn Hồng T1 có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho Ngân hàng N (do Chi nhánh huyện G đại diện nhận)

tổng số tiền tính đến ngày 04/9/2024 là 1.496.259.337 đồng (Bằng chữ: Một tỷ bốn trăm chín mươi sáu triệu hai trăm năm mươi chín nghìn ba trăm ba mươi bảy đồng), trong đó số tiền gốc: 1.330.000.000 đồng, số tiền lãi trong hạn: 159.482.137 đồng, số tiền lãi quá hạn: 2.875.684 đồng, lãi chậm trả là 3.901.516 đồng.

Tiền lãi vay phát sinh trên dư nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nêu trên từ ngày 04/9/2024 cho đến ngày thanh toán hết nợ.

Trường hợp Ông M, bà T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng N được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên bán đấu giá các tài sản của Ông M, bà T1 đã thế chấp với Ngân hàng để thanh toán hết nợ.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm đã thông báo và tổ chức công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông M, bà T1 vắng mặt không lý do.

Do không thể tiến hành hòa giải được, Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm đã đưa vụ án ra xét xử vào ngày 13 tháng 8 năm 2024, ông M, bà T1 vắng mặt.

Phiên tòa dân sự sơ thẩm được mở lại, ông M, bà T1 vẫn vắng mặt không có lý do.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Thẩm phán đã xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng, đúng quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ trong quá trình tố tụng... Thẩm phán đảm bảo đúng theo thời gian giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng theo quy định của pháp luật, vô tư, khách quan.

Đối với nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật; Đối với bị đơn chưa chấp hành đúng theo quy định pháp luật.

Về nội dung vụ án:

Ngân hàng N, Chi nhánh huyện G khởi kiện yêu cầu ông M, bà T1 có trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 04/9/2024 là 1.496.259.337 đồng (Bằng chữ: Một tỷ bốn trăm chín mươi sáu triệu hai trăm năm mươi chín nghìn ba trăm ba mươi bảy đồng), trong đó số tiền gốc: 1.330.000.000 đồng, số tiền lãi trong hạn: 159.482.137 đồng, số tiền lãi quá hạn: 2.875.684 đồng, lãi chậm trả là 3.901.516 đồng.

Xét thấy: Chứng cứ của Ngân hàng là căn cứ vào các Hợp đồng tín dụng giữa các bên đã ký kết; chứng từ chuyển khoản vào tài khoản xác nhận là của ông M; chứng cứ xác nhận ông M đã rút số tiền mặt trong tài khoản Ngân hàng. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông M, bà T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng. Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng ông ông M, bà T1 vắng mặt không lý do. Việc ông M, bà T1 không đến Tòa án giải quyết vụ án xem như ông ông M, bà T1 đã từ chối việc trình bày và cung cấp chứng cứ. Do

đó, căn cứ vào các Hợp đồng tín dụng và các chứng từ giao dịch của Ngân hàng đã giải ngân cho ông M, bà T1 là việc ông M, bà T1 còn nợ của Ngân hàng là phù hợp, có căn cứ chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Để đảm bảo về khoản nợ vay theo thỏa thuận, ông M, bà T1 có thế chấp 02 quyền sử dụng đất của ông M, bà T1. Trường hợp ông M, bà T1 không thực hiện việc trả nợ hoặc trả nợ không đúng hạn thì phía Ngân hàng có quyền yêu cầu kê biên bán đấu giá các tài sản của Ông M, bà T1 đã thế chấp với Ngân hàng để thanh toán hết nợ. Như vậy, đối với yêu cầu của Ngân hàng về việc xử lý tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ là đúng quy định. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Ông Phan Quốc M, bà Đoàn Hồng T1, là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung vụ án: Ngày 06/5/2022 Ngân hàng N, Chi nhánh huyện G, tỉnh Bến Tre ký hợp đồng tín dụng với ông Phan Quốc M, bà Đoàn Hồng T1 như sau:

Hợp đồng 107LAV202203419, số tiền là 800.000.000 đồng (Bằng chữ: T trăm triệu đồng), thời hạn vay là 60 tháng, Lãi suất: 9,5%/năm, lãi suất thả nổi, lãi suất quá hạn: 150% với lãi suất vay đã thỏa thuận. Ngân hàng đã giải ngân cho ông M, bà T1 số tiền vay vào ngày 11/5/2022.

Hợp đồng 17107LAV202203420, số tiền là 700.000.000 đồng (Bằng chữ: Bảy trăm triệu đồng), thời hạn vay là 60 tháng, Lãi suất: 9,5%/năm, lãi suất thả nổi, lãi suất quá hạn: 150% với lãi suất vay đã thỏa thuận. Ngân hàng đã giải ngân cho ông M, bà T1 số tiền vay vào ngày 11/5/2022.

Sau khi ký hợp đồng tín dụng, Ngân hàng N - Chỉ nhánh huyện G Bến Tre đã giải ngân toàn bộ số tiền cho vay đúng theo Hợp đồng tín dụng số: 7107LAV202203419 ngày 06/05/2022 và Hợp đồng tín dụng số 7107LAV202203420 ngày 11/05/2022, mà hai bên đã ký kết.

Để bảo đảm tiền vay, phía ông M, bà T1 với Ngân hàng đã ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 2022.07.08.111/HĐTC ngày 06/05/2022: Giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản: Giấy chứng nhận QSDĐ số: CA 173518 thửa 24, tờ bản đồ số 25 diện tích 2.548,1m² do UBND huyện G cấp ngày 21/07/2015 và Giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản: Giấy chứng nhận QSDĐ số: BD 447369 thửa 442, tờ bản đồ số 25 diện tích 2.873,8m² do UBND huyện G cấp ngày 23/02/2011, do ông M, bà T1 đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Quá trình thực hiện hợp đồng:

Ông Phan Quốc M, bà Đoàn Hồng T1 đã thực hiện thanh toán cho A Chi nhánh huyện G, tỉnh Bến Tre 01 kỳ trả nợ gốc với tổng số tiền gốc đã thanh toán là 170.000.000 đồng. Từ tháng 09/2023, ông M, bà T1 không thực hiện trả lãi cho ngân hàng. A nhiều lần làm việc, yêu cầu Ông M1, bà T1 thực hiện thanh toán lãi cho ngân hàng. Phía ngân hàng đã thông báo chuyển nợ quá hạn, giấy báo nợ đến hạn và nhiều lần lập biên bản xử lý nợ do khách hàng vay vi phạm hợp đồng đối với ông M1, bà T1. Ông M1 cam kết nhưng không thực hiện, cố tình trì hoãn, không thực hiện trả nợ như cam kết. Hiện tại Ông M1, bà T1 đã vi phạm hợp đồng tín dụng do vi phạm thỏa thuận trả nợ.

Tạm tính đến ngày 04/9/2024, ông M1, bà T1 còn nợ tại Ngân hàng N - Chi nhánh huyện G số tiền cụ thể là: Số tiền gốc: 1.330.000.000 đồng, số tiền lãi trong hạn: 159.482.137 đồng, số tiền lãi quá hạn: 2.875.684 đồng, lãi chậm trả là 3.901.516 đồng.

Theo chứng cứ do nguyên đơn cung cấp thể hiện trong quá trình thực hiện hợp đồng, do không thực hiện đúng theo cam kết hợp đồng khi không thanh toán phần vốn lãi cho Ngân hàng nên toàn bộ khoản nợ của khoản vay trên của khách hàng đã chuyển sang quá hạn.

Phía Ngân hàng đã có thông báo về việc khoản vay đã chuyển sang nợ quá hạn và các biên bản ông M1, bà T1 cam kết thanh toán nợ. Tuy nhiên, đến nay ông M1, bà T1 vẫn không đóng lãi và trả tiền vay theo hợp đồng cho phía Ngân hàng. Như vậy, ông M1, bà T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại các điều khoản trong hợp đồng tín dụng đã ký.

Hội đồng xét xử xét thấy đối với yêu cầu của Ngân hàng là có căn cứ. Việc ông M1, bà T1 không thực hiện trả nợ cho Ngân hàng như hai bên thỏa thuận. Ông M1, bà T1 đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng M2 nhiều lần phía Ngân hàng đã có yêu cầu đòi nợ theo quy định. Như vậy, chấp nhận yêu cầu của ngân hàng về việc buộc ông M1, bà T1 phải có trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng N - Chi nhánh huyện G, tỉnh Bến Tre số tiền gốc là: 1.330.000.000 đồng là phù hợp.

Đối với ông M1, bà T1: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhưng ông M1, bà T1 vẫn vắng mặt không lý do. Ông M1, bà T1 đã biết được tất cả các tài liệu, chứng cứ mà phía Ngân hàng cung cấp nhưng ông M1, bà T1 không đến Tòa và không có trình bày thể hiện ý kiến của ông M1, bà T1. Như vậy, ông M1, bà T1 đã đương nhiên từ bỏ quyền lợi trình bày và quyền cung cấp chứng cứ của mình tại tòa, Hội đồng xét xử không thể xem xét ý kiến của ông M1, bà T1 được, vì vậy, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp.

Về lãi suất: Ngân hàng yêu cầu ông M1, bà T1 trả số tiền lãi tạm tính đến

ngày 04/9/2024 là: số tiền lãi trong hạn: 159.482.137 đồng, số tiền lãi quá hạn: 2.875.684 đồng, lãi chậm trả là 3.901.516 đồng là phù hợp với các Hợp đồng tín dụng đã ký kết và phù hợp với quy định của pháp luật.

Như vậy, tổng số tiền phía Ngân hàng yêu cầu ông M1, bà T1 phải trả tạm tính đến ngày 04/9/2024 là 1.496.259.337 đồng (Bằng chữ: Một tỷ bốn trăm chín mươi sáu triệu hai trăm năm mươi chín nghìn ba trăm ba mươi bảy đồng), trong đó số tiền gốc: 1.330.000.000 đồng, số tiền lãi trong hạn: 159.482.137 đồng, số tiền lãi quá hạn: 2.875.684 đồng, lãi chậm trả là 3.901.516 đồng.

Tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nêu trên từ ngày 05/9/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ. Theo quy định tại Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng thì việc yêu cầu tính lãi suất phát sinh đến khi trả hết nợ gốc theo mức lãi suất quá hạn của Ngân hàng là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ những nhận định trên, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N, Chi nhánh huyện G về việc yêu cầu ông Phan Quốc M và bà Đoàn Hồng T1 có trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 04/9/2024 là 1.496.259.337 đồng (Bằng chữ: Một tỷ bốn trăm chín mươi sáu triệu hai trăm năm mươi chín nghìn ba trăm ba mươi bảy đồng), trong đó số tiền gốc: 1.330.000.000 đồng, số tiền lãi trong hạn: 159.482.137 đồng, số tiền lãi quá hạn: 2.875.684 đồng, lãi chậm trả là 3.901.516 đồng.

Việc xử lý tài sản thế chấp: Theo hợp đồng, trường hợp ông M, bà T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng N được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên bán đấu giá các tài sản của Ông M, bà T1 đã thế chấp với Ngân hàng để thanh toán hết nợ. Như vậy, chấp nhận yêu cầu về việc xử lý tài sản đã thế chấp của ông M, bà T1 để thu hồi nợ là phù hợp.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận

[3] Về án phí: ông Phan Quốc M và bà Đoàn Hồng T1 là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội.

Hoàn lại số tiền tạm ứng án phí Ngân hàng N, Chi nhánh huyện G đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 351, 352, 357, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự;

Căn cứ các Điều 147, 192, 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 100, 103 Luật các tổ chức tín dụng;

Căn cứ Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N, Chi nhánh huyện G đối với ông Phan Quốc M, bà Đoàn Hồng T1.
    • - Buộc ông Phan Quốc M, bà Đoàn Hồng T1 có trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng N (do Ngân hàng N, Chi nhánh huyện G, tỉnh Bến Tre nhận) tổng số tiền tạm tính đến ngày 04/9/2024 là 1.496.259.337 đồng (Bằng chữ: Một tỷ bốn trăm chín mươi sáu triệu hai trăm năm mươi chín nghìn ba trăm ba mươi bảy đồng), trong đó số tiền gốc: 1.330.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ ba trăm ba mươi triệu đồng), số tiền lãi trong hạn: 159.482.137 đồng (Bằng chữ: Một trăm năm mươi chín triệu bốn trăm tám mươi hai nghìn một trăm ba mươi bảy đồng), số tiền lãi quá hạn: 2.875.684 đồng (Bằng chữ: Hai triệu tám trăm bảy mươi lăm nghìn sáu trăm tám mươi bốn đồng), lãi chậm trả là 3.901.516 đồng (Bằng chữ: Ba triệu chín trăm lẻ một nghìn năm trăm mười sáu đồng).
    • - Buộc ông Phan Quốc M, bà Đoàn Hồng T1 còn phải tiếp tục chịu lãi suất trên số nợ gốc theo mức lãi suất quá hạn theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng kể từ ngày 05/9/2024 cho đến khi trả tất nợ.
    • Trường hợp ông M, bà T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng N được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên bán đấu giá các tài sản của Ông M, bà T1 đã thế chấp với Ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 2022.07.08.111/HĐTC ngày 06/05/2022 để thu hồi nợ.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
    • Ông Phan Quốc M, bà Đoàn Hồng T1 được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội.
    • - Hoàn trả lại cho Ngân hàng N (do Ngân hàng N, Chi nhánh huyện G nhận) số tiền 27.348.000 đồng (Hai mươi bảy triệu ba trăm bốn mươi tám nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004969 ngày 11/4/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
    • “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
  3. Trong hạn 15 ngày: Đối với các bên đương sự có mặt tại phiên tòa thì kể từ ngày tuyên án; Đối với các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, có quyền kháng cáo bản án này để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Giồng Trôm;
  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - Chi cục THADS huyện Giồng Trôm;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thế Trang Đền

(Đã ký)

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 117/2024/DS-ST ngày 04/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 117/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger