Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỦY NGUYÊN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 117/2024/HNGĐ-ST

Ngày 04-7-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Bùi Đình Hùng
  • Ông Doãn Văn Sáng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hậu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Bùi Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 74/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 82/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị M, nơi cư trú: Thôn B, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Bùi Quang H, nơi cư trú: Thôn B, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn ly hôn, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn – chị Trần Thị M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Bùi Quang H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán của địa phương và đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng vào ngày 13/4/2006. Quá trình chung sống của vợ chồng hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn về kinh tế, vợ chồng có lời nói không tôn trọng nhau. Vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ tháng 5 năm 2023 cho đến nay. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình khuyên giải song không đạt kết quả. Nay chị Trần Thị M nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể tiếp tục nên chị đề nghị Tòa án cho chị ly hôn với anh Bùi Quang H.

Về con chung: Chị Trần Thị M và anh Bùi Quang H có hai con chung là Bùi Quang H1, sinh ngày 15/9/2006 và Bùi Quang L, sinh ngày 11/11/2012. Hiện nay, sức khỏe các con chung bình thường. Ly hôn, chị Trần Thị M đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được nuôi dưỡng con chung Bùi Quang H1 và anh Bùi Quang H nuôi dưỡng con chung là Bùi Quang L. Việc cấp dưỡng nuôi con chung: Chị xin tự giải quyết với anh Bùi Quang H, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Trần Thị M xác định vợ chồng không có tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa: Chị Trần Thị M vắng mặt, chị Trần Thị M có đơn xin xét xử vắng mặt.

Đối với bị đơn – anh Bùi Quang H:

Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh Bùi Quang H theo đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, anh Bùi Quang H không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị M.

Theo tài liệu xác minh tại chính quyền địa phương thể hiện: Điều kiện, hoàn cảnh kết hôn, con chung của chị Trần Thị M và anh Bùi Quang H như chị Trần Thị M trình bày là đúng. Mâu thuẫn vợ chồng anh chị phát sinh do vợ chồng bất đồng với nhau về quan điểm sống, xẩy ra cãi nhau. Hiện nay, anh Bùi Quang H vẫn đang sinh sống ở thôn B, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng.

Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng:

Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về điều luật áp dụng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị M: Xử cho chị Trần Thị M ly hôn với anh Bùi Quang H. Về con chung: Giao con chung là Bùi Quang H1, sinh ngày 15/9/2006 cho chị Trần Thị M nuôi dưỡng và giao con chung là Bùi Quang L, sinh ngày 11/11/2012 cho anh Bùi Quang H nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Trần Thị M xin tự giải quyết với anh Bùi Quang H và không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Bùi Quang H không có quan điểm về việc cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Về tài sản chung: Chị Trần Thị M xác định vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Bùi Quang H không trình bày quan điểm về tài sản chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

- Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Đây là vụ án tranh chấp về việc ly hôn, nuôi con khi ly hôn, bị đơn là anh Bùi Quang H đang sinh sống tại huyện T, thành phố Hải Phòng, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là chị Trần Thị M và bị đơn là anh Bùi Quang H đều vắng mặt. Chị Trần Thị M có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, anh Bùi Quang H vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng các đương sự.

- Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện: Chị Trần Thị M và anh Bùi Quang H xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng vào ngày 13/4/2006, theo Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống của vợ chồng hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn kinh tế, không quan tâm, tin tưởng và tôn trọng nhau. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị Trần Thị M và anh Bùi Quang H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng đoàn tụ nên cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị M, xử cho chị Trần Thị M ly hôn với anh Bùi Quang H.

[4] Về con chung: Chị Trần Thị M và anh Bùi Quang H có hai con chung là: Bùi Quang H1, sinh ngày 15/9/2006 và Bùi Quang L, sinh ngày 11/11/2012. Hội đồng xét xử, xét thấy: Chị Trần Thị M có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Bùi Quang H1. Cháu Bùi Quang H1 có nguyện vọng được ở với chị Trần Thị M, cháu Bùi Quang L có nguyện vọng được ở với chị Trần Thị M hay với anh Bùi Quang H đều được. Anh Bùi Quang H không cung cấp quan điểm của mình về việc nuôi con chung. Xét thấy, điều kiện chăm sóc con chung của chị Trần Thị M và anh Bùi Quang H cơ bản là ngang nhau, do đó để đảm bảo quyền lợi của con chung, cần giao con chung Bùi Quang H1 cho chị Trần Thị M nuôi dưỡng và giao con chung là Bùi Quang L cho anh Bùi Quang H nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Trần Thị M xin tự giải quyết với anh Bùi Quang H, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Bùi Quang H không cung cấp quan điểm của mình về việc cấp dưỡng nuôi con chung. Chính vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con chung giữa chị Trần Thị M và anh Bùi Quang H.

[5] Về tài sản chung: Chị Trần Thị M xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Bùi Quang H không có quan điểm về tài sản chung của vợ chồng nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị M.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị M ly hôn anh Bùi Quang H.
  2. Về con chung:
    • - Giao con chung tên là Bùi Quang H1, sinh ngày 15/9/2006 cho chị Trần Thị M nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
    • - Giao con chung tên là Bùi Quang L, sinh ngày 11/11/2012 cho anh Bùi Quang H nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

    Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Trần Thị M xin tự giải quyết với anh Bùi Quang H, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Bùi Quang H không cung cấp quan điểm của mình về việc cấp dưỡng nuôi con chung. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con chung giữa chị Trần Thị M và anh Bùi Quang H.

  3. Về tài sản chung: Chị Trần Thị M xác nhận chị và anh Bùi Quang H không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết. Anh Bùi Quang H không có quan điểm về tài sản chung. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết về tài sản chung của chị Trần Thị M và anh Bùi Quang H.
  4. Về án phí dân sự: Chị Trần Thị M phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009823 ngày 15 tháng 3 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Chị Trần Thị M đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo:

    Chị Trần Thị M và anh Bùi Quang H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND huyện Thuỷ Nguyên;
  • - Chi cục THADS huyện Thuỷ Nguyên;
  • - UBND xã Kiền Bái, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 117/2024/HNGĐ-ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 117/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: My + Hưng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger