TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:117/2024/DS- PT
Ngày: 04/6/2024
V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Việt Hùng.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hương Giang và Ông Đặng Văn Quyết.
Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hải Yến - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang: Bà Hà Thị Hải – Kiểm sát viên.
Ngày 04/6/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 274/2024/TLPT- DS ngày 24 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 101/2023/DS-ST ngày 18/8/2023 của Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 28/2024/QĐ-PT ngày 16/01/2024; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 27/2024/QĐ- PT ngày 30/01/2004; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 24/2024/QĐ- PT ngày 01/3/2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 45/2024/QĐ-PT ngày 01/4/2024 và các thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa, giữa:
- Nguyên đơn: Bà Hà Thị Đ, sinh năm 1953 – Có mặt
Nơi cư trú: Tổ dân phố D, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1957 – Vắng mặt
Nơi cư trú: Tổ dân phố D, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1951 (đã chết)
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ: Bà Hà Thị Đ, chị Nguyễn Thị O, chị Nguyễn Thị T, anh Nguyễn Văn Q)
- Chị Nguyễn Thị O, sinh năm 1977 – vắng mặt
- Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1979 – vắng mặt
- Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1982 – Vắng mặt
Cùng nơi cư trú: Tổ dân phố D, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
(chị O, chị T, chị Q đều ủy quyền cho bà Đ tham gia tố tụng).
- Bà Lê Thị H1, sinh năm 1963 – Vắng mặt
Nơi cư trú: Tổ dân phố D, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
- UBND huyện H, tỉnh Bắc Giang do ông Vũ Quang T1 đại diện theo ủy quyền - Có đơn xin xét xử vắng mặt
- UBND thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang do ông Dương Duy N đại diện theo ủy quyền - Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người kháng cáo: nguyên đơn bà Hà Thị Đăng .
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Hà Thị Đ trình bày:
Năm 1977 – 1978 gia đình bà được Hợp tác xã D1, xã Đ giao cho một mảnh đất, đến năm 2000 chồng bà là ông Nguyễn Văn C làm đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ ông Nguyễn Văn C. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp thể hiện diên tích đất là 1350m², tại tời điểm được cấp giấy chứng nhận căn cứ vào đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì thôn D đã tiến hành đo đạc thửa đất thể hiện các canh thửa đất cụ thể, có 03 cạnh tiếp giáp đường đi, 01 canh giáp nhà anh N1, chị M.
Đến năm 2007 thửa đất này được cấp đổi giây chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 119 tờ bản đồ số 19, diện tích là 1.486,1m² và được UBND huyện H cấp đổi ngày 09/11/2007 mang tên ông Nguyễn Văn C và bà Hà Thị Đăng . Sau khi được cấp giấy chứng nhận đến nay đã bán 3 hộ ông Ngô Văn C1 ở thôn H, xã Đ diện tích là 165,6m², ông Nguyễn Anh T2 ở thôn C, xã H, gia đình ông Nguyễn Văn T3 ở thôn N, xã C, huyện H, tỉnh Bắc Giang đều có diện tích là 124,2m². Hiện nay gia đình bà còn một phần diện tích là 1.072,1m². Tuy nhiên có một phần diện tích khoảng 100m2 bị gia đình ông Nguyễn Văn H chiếm và đã xây tường. Bà yêu cầu Tòa án buộc bị đơn ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1957; Địa chỉ: tổ dân phố D, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang phải tháo dỡ tường và trả bà diện tích đất đã lấn chiếm khoảng 100m².
Căn cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của bà là phần diện tích đất này gia đình bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 2001 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2007. Còn đối với phần diện tích bà yêu cầu ông H trả lại bà có nguồn gốc năm 1977 – 1978 gia đình bà đã xin của Hợp tác xã D1, khi xin đất thì không có giấy tờ gì, phần diện tích đất này khi bà đến ở thì đã có bụi tre của gia đình ông Đ1, khi đó do ông Đ1 vẫn đang sử dụng lên bà có nói chuyện với ông Đ1 là khi nào ông Đ1 phá bỏ tre thì trả lại gia đình bà. Sau đó năm nào bà không nhớ do mưa bão ngọn tre có va vào mái nhà bà, bà đến hỏi ông Đ1 thì được ông Đ1 cho biết là đã đổi cho ông Q1 là bố ông H sử dụng bụi tre, bà đến nói chuyện với ông H nhưng ông H không đồng ý phá bụi tre trả lại đất cho bà, khi đó bà có nói chuyện với chồng bà vì chồng bà là người hiền lành lên bảo là thôi, khi nào ông ấy chặt tre trả thì trả do vậy bà không có ý kiến gì và cũng không khởi kiện thời điểm đó.
Đối với việc xây tường bao đất năm 2012-2013 như hiện nay ngăn cách giữa thửa đất bà đang sử dụng và phần đất hiện nay đang tranh chấp là do thời điểm xây tường bao ông H không phá bụi tre lên bà không xây hết phần đất đó, nhưng bà xác định phần đất đó là đất của gia đình bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tại phiên tòa bà Đ thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, bà yêu cầu ông Nguyễn Văn H trả bà diện tích đất là 82,6m² như kết quả đo đạc khi Hội đồng định giá định giá và xem xét thẩm định tại chỗ và yêu cầu ông H phá dỡ toàn bồ tường bao do ông H đã xây.
Bị đơn ông Nguyễn Văn H trình bày:
Phần diện tích đất tranh chấp nằm trong một phần thửa đất mà ông và bố ông khai hoang. Năm 1977 – 1978 bố đẻ ông C ra xin hợp tác xã thì được hợp tác xã giao cho một phần diện tích thủa đất của bố con ông đã khai hoang, phần diện tích còn lại thì ông quản lý, sử dụng. Trên phần đất tranh chấp gia đình ông có trồng búi tre từ 1970 đến năm 2019 thì gia đình ông được sự vận động của địa phương đã phá bụi tre đi để làm đường. Ngoài ra gia đình ông có đổi một búi tre với nhà ông Đ1 là em vợ bố ông. Về mặt giấy tờ thì gia đình ông không có giấy tờ gì.
Đối với việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Văn C ông xác định việc cấp giấy chứng nhận năm 2007 là sai, đã cấp cả phần diện tích đất gia đình ông khai hoang trồng cây trên phần diện tích đó, khi cấp giấy chứng nhận cho hộ ông Nguyễn Văn C cả phần có tài sản là cây côi trên đo. Ông yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông C.
Bà Lê Thị H1 đã được Tòa án thông báo thụ lý vụ án và triệu tập làm việc nhưng không có lời khai với Tòa án.
UBND huyện H trình bày: Đối với việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hộ gia đình ông Nguyễn Văn C theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01828 /QSDĐ/564/2001/QĐ-UB(H) địa chỉ thủa đất tại thôn D, xã Đ, huyện H điện tích được cấp là 1350m2 là cấp theo chỉ thị 18 của Chính phủ thì hộ gia đình được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tự kê khai và làm đơn xin cấp giấy chứng nhận. Việc xác định ranh giới, mốc giới theo hiện trang sử dụng đất tại thời điểm đo vẽ. Sau khi các tổ đo đạc tiến hành đo đạc nộp cho UBND xã để xác nhận đơn xin cấp giấy và sơ đồ ranh giới thửa đất thì trình UBND huyện cấp giấy chứng nhận. Do vậy về trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Văn C là đảm bảo đúng trình tự thủ tục theo quy định. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng do các chủ sử dụng đất tự kê khai, tự chịu trách nhiệm về nguồn gốc, diện tích đất mình được cấp. Đối với việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2007 diện tích là 1486,1m2 việc cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2007 căn cứ vào kết quả đo đạc năm 2004 khi nhà nước thực hiện việc đo đạc để xây dựng bản đồ địa chính. Theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận được lưu thì thể hiện tại đơn xin cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chưa có chữ ký của người thẩm tra và Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H xác thực, không có chữ ký của người làm đơn xin cấp đổi.
Đối với việc xác định ranh giới, mốc giới thửa đất theo Biên bản xác định ranh giới, mốc giới ngày 20/7/2004 thể hiện các chủ sử dụng đất tiếp giáp, trong đó tại phần tiếp giáp đường đi của thửa đất không có xác nhận của Cơ quan có thẩm quyền và đại diện chủ sử dụng đất ký.
Qua hồ sơ được lưu giữ thì giữa hai lần cấp giấy chứng nhận có sự thay đổi về diện tích cụ thể năm 2007 diện tích đất tăng lên 136,1m², tháy đổi từ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ hộ ông Nguyễn văn C2 sang tên cá nhân ông Nguyễn Văn C, bà Hà Thị Đ và hạn mức cấp đất ở từ 300 m² lên 1486,1 m² đất ở đều không có tài liệu nào thể hiện việc thay đổi đó.
Do vậy UBND huyện xác định việc cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn C, bà Hà Thị Đ là không đảm bảo quy định.
UBND thị trấn T trình bày: UBND thị trấn T không có tài liệu nào quản lý, theo dõi liên quan đến thửa đất tranh chấp giữa hai hộ gia đình. Việc hộ gia đình ông Nguyễn Văn C được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2001 được thực hiện cấp theo chỉ thị 18 của Chính phủ, khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu căn cứ vào đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình, cá nhận, UBND xã Đ (nay là thị trấn T) đã thành lập các tổ đo đạc của các thôn trong xã. Sau khi thành lập tổ đo đạc, căn cứ vào đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các tô đo đạc tiến hành đo đạc từng hộ và vẽ sơ đồ xác định ranh giới, mốc giới thửa đất, sau khi có xác nhận của trưởng thôn và được gửi về UBND xã thì được UBND xã xét duyệt và chuyển hồ sơ đến UBND huyện cấp giấy chứng nhận. Việc cấp giấy chứng nhận này người được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tự kê khai, tự chịu trách nhiệm kê khai. Đến 2007 theo chủ trương cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện sau khi đo vẽ bản đồ địa chính năm 2004 trên địa bàn huyện H, UBND xã Đ căn cứ vào bản đồ địa chính để đề nghị cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho toàn bộ các hộ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước khi có bản đồ địa chính năm 2004. Khi cấp giấy chứng nhận mới cho hộ ông C diện tích đất có tăng lên so với năm 2001 là 136,1m² UBND thị trấn không xác được do đâu mà diện tích này tăng lên vì không có tài liệu nào thể hiện phần diện tích tăng lên này.
Người làm chứng:
Ông Nguyễn Văn Đ2 trình bày: Ông là hàng xóm của bà Đ và ông H, ông ở sát diện tích đất đang tranh chấp giữa hai nhà từ năm 1975. Về nguồn gốc đất hiện nay đang tranh chấp giữa hai nhà thì năm 1975 khi ông ở gần đó là do bố ông H là cụ Q1 sử dụng và trồng tre trên diện tích đất đó. Đến năm 1977 thì gia đình bà Đăng C3 co xin của Hợp tác xã một phần diện tích đất như hiện nay bà Đ đang ở. Thời điểm ông ra ở thì thấy cụ Q1 có một bụi tre giáp với đất của gia đình ông lên ông đã đổi cho ông Q1 một bụi tre ở phần đất tranh chấp lấy bụi tre sát nhà ông, sau này ông đã phá bụi tre để xây tường. Còn đối với diện tích đất tranh chấp giữa bà Đ và ông H hiện nay thì từ năm 1975 đến nay đều do ông Q1, sau này ông H sử dụng. Đến năm 2020 thì ông H mới phá bụi tre để xây tường. Trước khi xây tường thì ranh giới giữa hai thửa đất đang tranh chấp và thửa đất nhà bà Đ đang sử dụng đã có hàng rào ranh giới là hàng cây dứa dại.
Ông Nguyễn Văn T4 trình bày: Ông là thành viên cua tổ đo đạc đất năm 2000 tại thôn D trước đây, lý do ông là thành viên tổ đo đạc là từ năm 1986 ông là phó chủ nhiệm hợp tác xã, đến năm 2000 theo chủ trương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông là thành viên tổ đo đạc. Tại thời điểm đo đạc năm 2000 thì ông Nguyễn Xuân T5 là tổ trưởng (đã chết), ông Nguyễn Văn N2 (đã chết) và ông là thành viên.
Khi đó tổ đo đạc căn cứ vào đơn đề nghị xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông C3 thì tổ đo đạc đến đo, khi đo thì ông C3 là người chỉ vị trí ranh giới mốc giới. Tại thời điểm đo thì tổ đo đạc sử dụng loại thước dây có chiều dài 20m để đo. Tại thời điểm đo ông C3 chỉ ranh giới, tổ đo đạc đo thửa đất nhà ông C3 gồm 4 cạnh. Trong đó có cạnh giáp ranh với đất nhà anh N1 và nhà chị M và một phần ngõ có chiều dài là 53,6m (Phía đông); Cạnh hiện nay là cổng nhà bà Đ (phía tây) có chiều dài là 46m; Tại cạnh phía Tây hiện nay hộ anh T3, ông C1 đang sử dụng đã nhận chuyển nhượng của ông C3, Bà Đ là 27,6m; Tại phần ranh giới phía Bắc (hiện nay giáp với phần đất đang tranh chấp có chiều dài là 29,7m), tại thời điểm đo đạc thì ông C3 nói là phần diện tích có bụi tre chạy dài theo mép đường và một vũng trâu đầm diện tích khoảng 10m2 là của nhà ông Q1 bố ông H. Khi đó ông C3 chỉ đến phần hàng rào giáp ranh giữa hai thửa đất là hàng cây dứa dại, cây găng, cây mây. Khi đo ông C3 cầm que để chỉ ranh giới, ngoài ra khi đó ranh giới giữa đất nhà bà Đ đang ở và đất hiện nay hai nhà đang tranh chấp có một bờ đất do nhà ông C3 đáp để ngăn ranh giới với phần đất có bụi tre và vũng trâu đầm. Lên khi đo thì bỏ lại phần có bụi tre khoảng 5m phía từ đất nhà ông C3 đến đưỡng làng, còn chiều phía trong đi vào nhà canh Nghị cách ranh giới đất ông C3 chỉ ra đường làng khoảng 3,5m.
Ông Nguyễn Văn D trình bày: Ông làm phó thôn D từ năm 2014 đến năm 2020, từ năm 2020 đến nay ông làm Tổ trưởng tổ dân phố D. Đối với phần đất tranh chấp giữa hộ bà Đ và hộ ông H theo ông được biết trước đây là đất của cụ Q1 bố ông H. Trên phần đất hiện nay đang tranh chấp thì có bụi tre của cụ Q1 bố ông H và bụi tre của cụ Đ2, nhưng không biết lý do vì sao sau này cụ Q1 sử dụng cả hai bụi tre, khi cụ Q1 chết thì ông H là người sử dụng. Đến năm 2019 thì thôn D làm đường giao thông đổ bê tông thì ông H chặt bụi tre và xây tường, khi ông H xây tường thì ban quản lý thôn có đến yêu cầu không được xây tường vì xác định đây là đất công, thời điểm đó thì diện tích đất nhà bà Đ đang ở hiện nay đã được xây tường bao, còn phần đất tranh chấp chưa xây tường. Khi đó bà Đ cũng không có ý kiến gì.
Ông Nguyễn Văn Đ3 trình bày: Ông L trưởng thôn Dinh H2 từ năm 2003 đến năm 2012. Về nguồn gốc diện tích đất hiện nay hai gia đình bà Đ và ông C3 đang tranh chấp có có nguồn gốc của Hợp tác xã, sau đó cụ Q1 bố ông H có trồng tre trên diện tích đất này, cụ Q1 trồng tre từ trước thời điểm nhà bà Đ, ông C3 ra thửa đất liền kề thửa đất đang tranh chấp ở.
Về thời điểm cấp giây chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2001 thì ông không lắm được việc đo vẽ thửa đất như nào. Đến năm 2007 khi cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì việc đo vẽ không qua thôn lên không lắm được. Ông chỉ biết là từ trước đến nay thì gia đình ông H vẫn sử dụng phần diện tích đất đang tranh chấp.
Còn đối với việc nộp thuế đất thì ông xác định đối với việc thu thuế là thu theo hộ gia đình được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không thu theo mét vuông đất lên không lắm được diện tích đất của các hộ trong đó có hộ ông C3 là bao nhiêu mét vuông.
Ông Nguyễn Văn A trình bày: Ông làm trưởng thôn Dinh H2 từ năm 2000 đến năm 2003, trong thời gian làm trưởng thôn ông được UBND xã Đ giao nhiệm vụ vận động các hộ dân trên địa bàn thôn làm đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại thời điểm đó thì khi nhận được đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thôn D có thành lập 03 tổ đo đạc đất của các hộ để làm giấy chứng nhận, trong đó co hộ ông Nguyễn Văn C. Các tổ đo đạc có nhiệm vụ đo từng hộ sau đó ông ký xác nhận vào kết quả đo đạc.
Còn đối với việc thu nộp các khoản thuế thì theo thông báo của UBND xã Đ hàng năm theo hộ gia đình, không thu theo diện tích đất
Với nội dung trên, bản án dân sự sơ thẩm số 101/2023/DS-ST ngày 18/8/2023 của Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa đã quyết định:
Căn cứ Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 146; Điều 147; Điều 227; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 100; Điều 200; Điều 203 Luật đất đai 2013
Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Xử:
- Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị Đ về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn H trả lại phần diện tích lấn chiếm và tháo dỡ tường trên phần đất bà Đ đòi phần diện tích đất 82,6 m²
Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí chi phí tố tụng, về án phí, quyền kháng cáo, quyền thi hành án đối với các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 26/8/2023, nguyên đơn bà Hà Thị Đ kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 101/2023/DS-ST ngày 18/8/2023 của Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn bà Hà Thị Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Nguyên đơn trình bày: Bà vẫn giữ được toàn bộ các phiếu thu. Bà có đầy đủ giấy tờ của cơ quan có thẩm quyền về việc được phép sử dụng hợp pháp diện tích 1.481m². Bà đề nghị sửa án sơ thẩm buộc ông H phải trả lại diện tích đất lấn chiếm.
+ Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang phát biểu:
- Về tố tụng: Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và các đương sự đã chấp hành đầy đủ các trình tự, thủ tục của BLTTDS.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang áp dụng khoản 1, Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của bà Hà Thị Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm đã xử.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Hà Thị Đăng .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về thủ tục tố tụng: Bị đơn, một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa mở lần thứ hai. Tòa án xét xử vắng mặt họ là đảm bảo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xác định phần diện tích đất tranh chấp có nguồn gốc của ông Q1 (là bố đẻ bị đơn ông H). Đối với phần diện tích đất tranh chấp gia đình ông H vẫn quản lý sử dụng từ trước những năm 1970 đến nay. Phía nguyên đơn bà Đ cũng xác nhận phần diện tích đất này khi bà đến ở thì đã có bụi tre của gia đình ông Đ2, sau đó gia đình ông Đ2 đổi cho ông Q1 là bố ông H sử dụng bụi tre. Mặt khác bà Đ cũng thừa nhận việc tại thời điểm gia đình bà xây tường bao phần diện tích đất bà đang sử dụng thì không xây tường bao phần diện tích đất có tranh chấp này, lý do bà cho rằng tại thời điểm đó gia đình ông H vẫn đang sử dụng bụi tre trên diện tích đất đó.
Năm 2001, gia đình bà Đ làm thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2007 diện gia đình bà Đ đã kê khai cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được UBND huyện cấp với diện tích đất là 1486,1m² (việc kê khai lại đã tăng về diện tích so với năm 2001 là 136,1m²). Tại kết quả thẩm định đo vẽ ngày 02/7/2021 do Tòa án tổ chức thì hiện nay gia đình bà Đ đang quản lý sử dụng thửa đất có chiều dài cạnh phía tây là 30,14m, cạnh phía Đông có chiều dài là 40,29m. Đối chiếu số liệu chiều dài các cạnh và diện tích thửa đất gia đình bà Đ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất qua các thời kì và chuyển nhượng cho 3 hộ gia đình khác trong đó ông Nguyễn Văn T3, ông Nguyễn Anh T2 cùng diện tích 124,2m² trong đó có cạnh phía tây, phía Đông cùng có chiều dài của hai lô đất là 4,5m; Bán cho ông Ngô Thanh C4, bà Ngô Thị T6 thửa đất diện tích là 165,6m² có cạnh chiều dài phía Đông, T7 đều là 6m thì thấy chiều dài so với các cạnh của thửa đất năm 2001 gia đình bà Đ được cấp không sai khác quá lớn so với hiện nay. Việc sai số này có thể đánh giá là sai số về mặt kỹ thuật được cho phép giữa các lần đo.
Hơn nữa phần diện tích bà Đ kê khai tăng thêm là 136,1m², phần diện tích tranh chấp giữa hai hộ gia đình là 82,6 m² qua địa phương cung cấp thì năm 2019 khi làm đường bê tông thì gia đình ông H đã phá bụi tre và xây tường trong đó có một phần của bụi tre được ông H hiến đất để làm đường, đoạn đường bê tông có chiều dài chạy dọc theo cạnh thửa đất có tranh chấp là 26,07m.
Bà Hà Thị Đ căn cứ vào việc gia đình bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 2001 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2007 để yêu cầu ông Nguyễn Văn H trả bà diện tích đất là 82,6m². Tuy nhiên phía Ủy ban nhân dân huyện H có quan điểm việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng do các chủ sử dụng đất tự kê khai, tự chịu trách nhiệm về nguồn gốc, diện tích đất mình được cấp. Đối với việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2007 diện tích là 1486,1m2 việc cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2007 căn cứ vào kết quả đo đạc năm 2004 khi nhà nước thực hiện việc đo đạc để xây dựng bản đồ địa chính. Theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận được lưu thì thể hiện tại đơn xin cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chưa có chữ ký của người thẩm tra và Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H xác thực, không có chữ ký của người làm đơn xin cấp đổi. Đối với việc xác định ranh giới, mốc giới thửa đất theo Biên bản xác định ranh giới, mốc giới ngày 20/7/2004 thể hiện các chủ sử dụng đất tiếp giáp, trong đó tại phần tiếp giáp đường đi của thửa đất không có xác nhận của Cơ quan có thẩm quyền và đại diện chủ sử dụng đất ký. Qua hồ sơ được lưu giữ thì giữa hai lần cấp giấy chứng nhận có sự thay đổi về diện tích cụ thể năm 2007 diện tích đất tăng lên 136,1m², thay đổi từ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ hộ ông Nguyễn văn C2 sang tên cá nhân ông Nguyễn Văn C, bà Hà Thị Đ và hạn mức cấp đất ở từ 300 m² lên 1486,1 m² đất ở đều không có tài liệu nào thể hiện việc thay đổi đó. Do vậy UBND huyện xác định việc cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn C, bà Hà Thị Đ là không đảm bảo quy định.
Như vậy, bà Đ chưa từng quản lý sử dụng diện tích đất tranh chấp. Năm 2013 đã tự xác định ranh giới là bức tường do gia đình bà xây dựng. Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông C (chồng bà Đ) không đúng hiện trạng đất, không đúng trình tự thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy, không có căn cứ xác định quyền sử dụng đất đối với diện tích đất tranh chấp thuộc hộ gia đình bà Đ. Do đó, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà Đ về việc buộc ông H trả đất, tháo dỡ tường. Tòa án cấp sơ thẩm xử là có cơ sở.
Về phía ông H, mặc dù ông H trình bày rằng nguồn gốc diện tích đất tranh chấp là của gia đình nhà ông, tuy nhiên ông H chưa từng kê khai, đăng ký đối với diện tích đất tranh chấp nên chưa có căn cứ xác lập quyền sử dụng đất cho hộ ông H.
Về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông C. Tuy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này được cấp có nhiều sai sót, không đúng quy định pháp luật, tuy nhiên không có căn cứ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn và những người khác nên không cần hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông C trong vụ án này. Kiến nghị U và UBND huyện H thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn về quản lý đất đai theo quy định của Luật Đất đai năm 2013.
Từ những đánh giá trên, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Hà Thị Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm đã xử. Tuy nhiên, cần rút kinh nghiệm đối với cấp sơ thẩm về việc tuyên án, phải tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đ đối với diện tích đất ở thửa nào? tờ bản đồ số bao nhiêu? địa chỉ thửa đất ở đâu?
[3] Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét, giải quyết các quyết định khác của bản án sơ thẩm mà không có kháng cáo, kháng nghị.
[4] Về án phí phúc thẩm: Bà Hà Thị Đ là người cao tuổi. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Hà Thị Đăng .
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Hà Thị Đ, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 101/2023/DS-ST ngày 18/8/2023 của Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị Đ về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn H trả lại phần diện tích lấn chiếm và tháo dỡ tường trên phần diện tích đất tranh chấp là 82,6m² thuộc thửa đất số 119 tờ bản đồ số 19, diện tích 1.486,1m², địa chỉ: thôn D, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang, được UBND huyện H cấp đổi ngày 09/11/2007 mang tên ông Nguyễn Văn C và bà Hà Thị Đăng .
- Về chi phí tố tụng: Bà Hà Thị Đ phải chịu 2.092.000 đồng tiền chi phí thẩm định tại chỗ, đo vẽ, định giá tài sản. Xác nhận bà Đ đã nộp đủ số tiền này.
- Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án.
Miễn án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm cho bà Hà Thị Đăng .
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi gửi:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Việt Hùng |
Bản án số 117/2024/DS-PT ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 117/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp quyền sử dụng đất
