|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 117/2024/HS-ST Ngày: 01/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hanh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đinh Văn Hải
2. Ông Nguyễn Thanh Vũ
Thư ký phiên tòa: Bà Nông Triệu Bảo Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến giữa điểm cầu trung tâm là Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng với điểm cầu thành phần là Nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng vụ án hình sự thụ lý số: 99/2024/HSST ngày 21 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 187/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đối với bị cáo:
Họ và tên: Nông Văn Đ; Tên gọi khác: Không; sinh ngày: 09/11/1993 tại huyện T, tỉnh Cao Bằng; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm P, xã V, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông: Nông Văn H (đã chết); Con bà: Đinh Thị V, sinh năm 1975; Anh, chị em ruột: có hai anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ, con: Chưa có. Tiền án: Không; Tiền sự: Có 01 tiền sự: Ngày 08/11/2021 Toà án nhân dân huyện Thạch An ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính được vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 03/3/2023 Nông Văn Đặng chấp hành xong). Nhân thân: Ngày 05/4/2019 Công an huyện T, tỉnh Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng kể từ ngày 24/3/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam theo Quyết định Tạm giam số 173/2024/HSST-QĐTG ngày 21/6/2024 của Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng. Có mặt tại phiên toà.
Bị hại: Tô Thị N – Sinh năm 1966
Địa chỉ: Tổ A, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Ma Thị L - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C – Sở tư pháp tỉnh Cao Bằng. Có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 08 giờ 50 phút 23/3/2024 Công an phường T tiếp nhận đơn trình báo của bà Tô Thị N (sinh ngày 22/11/1966, trú tại tổ A, phường T, thành phố C) về việc vào khoảng 08 giờ 00 phút cùng ngày bà N đang bán xôi tại khu vực tổ A phường T thì bị mất trộm 01 chiếc ví bên trong có khoảng hơn 03 triệu đồng tiền mặt và giấy tờ tùy thân. Sau khi tiếp nhận đơn trình báo, Công an phường T tiến hành xác minh, truy vết đối tượng, đến khoảng 20 giờ 20 phút cùng ngày tại tổ A phường T, lực lượng Công an phát hiện đối tượng Nông Văn Đ (sinh năm 1993, trú tại xóm P, V, huyện T, tỉnh Cao Bằng) có đặc điểm, dấu hiệu nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Tại đây, Đặng thừa n là người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Đồ vật, tài liệu thu giữ: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen đã qua sử dụng có số IMEI: 355481/05/019119/9 (điện thoại không có pin); 01 (một) thẻ ngân hàng A mang tên Nông Văn Đ; Tiền Việt Nam: 1.798.000đ (một triệu bảy trăm chín mươi tám nghìn đồng). Ngày 24/3/2024 Công an phường T chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C để điều tra theo thẩm quyền.
Hồi 09 giờ 00 phút ngày 24/3/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố đã tiến hành cho Nông Văn Đ chỉ vị trí Đặng cất giấu chiếc ví tại Cơ sở tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và hưu trí của Sở Y tế thuộc tổ A, phường T, thành phố C. Tại đây thu giữ: 01 (một) chiếc ví giả da màu nâu có dập vân, kích thước (20cm x 10 cm) ví có 02 ngăn có khóa kéo để đóng, mở; 01 (một) thẻ Căn cước công dân số [...] mang tên Tô Thị N. Cùng ngày thu giữ của Đặng: 01 (một) áo khoác dài tay màu xám xanh, phía trước bên ngoài ngực trái của áo có gắn 1 logo bằng da màu nâu, hình chữ nhật có chữ “DOLCE&GABBANA MILANO/ITALIA” bên trong áo khoác có lót nỉ màu đen; 01 (một) quần bò dài màu trắng xanh, quần bị rách ở 2 bên đầu gối và nhiều vị trí khác; 01 (một) đôi dép màu xám, đôi dép đã rách, cũ bẩn đã qua sử dụng; 01 (một) mũ lưỡi trai màu đen, phía trước mũ có thêu logo và dòng chữ Gucci.
Quá trình điều tra xác định được như sau: Sáng ngày 22/3/2024, Nông Văn Đặng bắt xe khách từ nhà riêng tại xóm P, xã V, huyện T, tỉnh Cao Bằng ra thành phố C chơi. Đến khoảng 8 giờ sáng ngày 23/3/2024, Đặng đi bộ đến quán xôi của bà Tô Thị N ở trước cổng Bưu điện chi nhánh phường T, thành phố C để mua 10.000đ (mười nghìn đồng) tiền xôi để ăn sáng, do không có tiền nên Đặng n1 "tí bạn cháu đến đón thì bạn cháu trả tiền xôi cho". Trong lúc đang ăn thì Đặng nhìn thấy bên phải cạnh bà N có 01 (một) xô nhựa màu đỏ, bên trong đựng tiền và ví tiền. Do cần tiền để mua ma túy nên Đ nảy sinh ý định lấy trộm ví tiền của bà N. Lợi dụng lúc bà N đang bán xôi cho khách, Đặng tiến đến vị trí xô nhựa sau đó dùng tay phải thò vào trong xô cầm ví của bà N lên, ôm ví vào sát ngực trái rồi vòng ra phía sau bà N và đi nhanh về phía đường xuống bờ sông ở bên cạnh Bưu điện chi nhánh phường T. Đ tiếp tục chạy một đoạn rồi vào khu đất trống tại Cơ sở tập huấn bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và lưu trữ của Sở y tế. Đặng vào trong một phòng vệ sinh, mở ví ra lấy toàn bộ số tiền 3.187.000₫ có trong ví sau đó bỏ lại chiếc ví bên trong có Căn cước công dân trong nhà vệ sinh, sau đó trèo ra ngoài rồi đi xuống bờ kè gầm cầu H rồi đi lên đoạn cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh C để sử dụng số tiền 1.300.000đ (một triệu ba trăm nghìn đồng) vừa trộm được để mua ma túy từ một người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ). Đ tiếp tục dùng số tiền trộm được để mua thuốc lá, nước ngọt, bánh cùng 02 (hai) ống xilanh, 02 (hai) lọ nước cất hết 89.000đ (tám mươi chín nghìn đồng) rồi xuống khu vực bờ sông để sử dụng số ma túy vừa mua. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày khi Đ đang đi bộ ra cầu S thuộc phường T để đi xe khách về nhà thì bị Công an phường T phát hiện, thu giữ tang vật như đã nêu ở trên và đưa về trụ sở làm việc.
Hành vi của Nông Văn Đ đã bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng lập hồ sơ đề nghị truy tố về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại Cáo trạng số: 108/CT-VKSTP ngày 20/6/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Nông Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, bị cáo Nông Văn Đ thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện. Bị cáo khai được lấy trộm 01 (một) chiếc ví của bị hại Tô Thị N và chiếm đoạt toàn bộ số tiền bên trong ví là 3.187.000đ (Ba triệu một trăm bám mươi bảy nghìn đồng). Bị cáo đã sử dụng số tiền 1.300.000đ (Một triệu ba trăm nghìn đồng) để mua ma tuý cho bản thân và sử dụng số tiền 89.000đ để tiêu sài cá nhân. Đối với tài sản bị thu giữ bị cáo yêu cầu được trả lại gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen đã qua sử dụng; 01 (một) thẻ ngân hàng A mang tên Nông Văn Đ; 01 (một) áo khoác dài tay màu xám xanh; 01 (một) quần bò dài màu trắng xanh; 01 (một) đôi dép màu xám đã qua sử dụng; 01 (một) mũ lưỡi trai màu đen.
Bị hại Tô Thị N vắng mặt tại phiên tòa, lời khai trong hồ sơ về tài sản bị mất tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của bị cáo; nội dung đơn xin xét xử vắng mặt yêu cầu được hoàn trả lại tài sản đã bị chiếm đoạt. Về trách nhiệm hình sự, đề nghị xét xử theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố bị cáo Nông Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo Nông Văn Đ 09 đến 12 tháng tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho bị hại Tô Thị N số tiền đã chiếm đoạt còn lại là 1.389.000đ (Một triệu ba trăm tám mươi chín nghìn đồng).
Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị hại Tô Thị N 01 (một) thẻ Căn cước công dân số [...] mang tên Tô Thị N và số tiền 1.798.000đ (Một triệu bảy trăm chín mươi tám nghìn); 01 (một) chiếc ví giả da màu nâu có dập vân, kích thước 20cm x 10cm.
Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen đã qua sử dụng; 01 (một) thẻ ngân hàng A mang tên Nông Văn Đ; 01 (một) áo khoác dài tay màu xám xanh; 01 (một) quần bò dài màu trắng xanh; 01 (một) đôi dép màu xám đã qua sử dụng; 01 (một) mũ lưỡi trai màu đen.
Về án phí: Bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế khó khăn, có đơn xin miễn án phí nên được miễn nộp tiền án phí hình sự và dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
Người bào chữa cho bị cáo bà Ma Thị L – Trợ giúp viên pháp lý trình bày: Nhất trí với ý kiến đại diện Viện kiểm sát đề nghị truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về xử lý vật chứng và án phí. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, do bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế khó khăn nên nhận thức của bị cáo còn nhiều hạn chế. Mặt khác, do bị cáo chưa có tiền án, phạm tội lần đầu nên cần xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là 09 tháng tù.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Khi được nói lời sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp để sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về các hành vi và quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tội danh: Tại cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung đơn trình báo; lời khai của bị hại cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định: Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 23/3/2023 tại tổ A, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, Nông Văn Đ đã có hành vi Trộm cắp 01 (một) chiếc ví bên trong có số tiền 3.187.000đ (Ba triệu một trăm tám mươi bảy nghìn đồng) của bà Tô Thị N, nhằm mục đích mua ma túy về sử dụng và tiêu xài cá nhân.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản để thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích mua ma túy. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 3.187.000đ (Ba triệu một trăm tám mươi bảy nghìn đồng) nên phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành Tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như đã viện dẫn là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[3]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Nông Văn Đ là người có nhân thân xấu, có 01 (một) tiền sự: Ngày 08/11/2021 Toà án nhân dân huyện Thạch An ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính được vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, ngày 03/3/2023 bị cáo đã chấp hành xong, đến ngày 23/3/2023 lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Ngoài ra bị cáo đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy. Điều này cho thấy bị cáo có ý thức coi thường pháp luật, không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4]. Về hình phạt:
Hình phạt chính: Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả do hành vi bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn liều lĩnh, công khai thực hiện hành vi phạm tội ở nơi tập trung đông dân cư. Điều này cho thấy bị cáo là người coi thường pháp luật, không có ý thức tự cải tạo bản thân nên cần có hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo. Do đó, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không nghề, không có thu nhập ổn định. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5]. Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Đối với tài sản thu giữ gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen đã qua sử dụng só số IMEI: 355481/05/019119/9 (điện thoại không có pin); 01 (một) thẻ ngân hàng A mang tên Nông Văn Đ; 01 (một) áo khoác dài tay màu xám xanh, phía trước bên ngoài ngực trái của áo có gắn 1 logo bằng da màu nâu, hình chữ nhật có chữ "DOLCE&GABBANA MILANO/ITALIA" bên trong áo khoác có lót nỉ màu đen; 01 (một) quần bò dài màu trắng xanh, quần bị rách ở 2 bên đầu gối và nhiều vị trí khác; 01 (một) đôi dép màu xám, đôi dép đã rách, cũ bẩn đã qua sử dụng; 01 (một) mũ lưỡi trai màu đen, phía trước mũ có thêu logo và dòng chữ Gucci. Xét thấy đây là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo Nông Văn Đặng.
Đối với 01 (một) chiếc ví giả da màu nâu có dập vân, kích thước 20cm x 10cm, ví có 02 ngăn có khóa kéo để đóng, mở; 01 (một) thẻ Căn cước công dân số [...] mang tên Tô Thị N; Tiền Việt Nam: 1.798.000 đồng (một triệu bảy trăm chín mươi tám nghìn đồng). Xét thấy, đây là tài sản của chủ sở hữu Tô Thị N nên cần trả lại cho bị hại Tô Thị N.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho bị hại Tô Thị N số tiền đã chiếm đoạt còn lại là 1.389.000đ (Một triệu ba trăm tám mươi chín nghìn đồng).
[7]. Về án phí: Bị cáo Nông Văn Đ là đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế khó khăn, có đơn xin miễn án phí nên được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8]. Các ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tại phiên tòa là đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có đủ khả năng nhận thức và đã được cải tạo giáo dục nhiều lần nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích sử dụng ma tuý và tiêu sài cá nhân. Do đó không có căn cứ cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về đề nghị cho bị cáo hưởng mức án 09 tháng tù là chưa phù hợp với đặc điểm nhân thân, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố: Bị cáo Nông Văn Đ phạm tội Trộm cắp tài sản.
Xử phạt: Bị cáo Nông Văn Đ 10 tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày 24/3/2024. - Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 353, Điều 468, Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Buộc bị cáo Nông Văn Đ có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho bị hại Tô Thị N số tiền đã chiếm đoạt là 1.389.000đ (Một triệu ba trăm tám mươi chín nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. - Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Trả lại cho bị cáo Nông Văn Đ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen đã qua sử dụng, có số IMEI (theo quyết định chuyển vật chứng): 355481/05/019119/9 (điện thoại không có pin); 01 (một) thẻ ngân hàng A mang tên Nông Văn Đ; 01 (một) áo khoác dài tay màu xám xanh, phía trước bên ngoài ngực trái của áo có gắn 1 logo bằng da màu nâu, hình chữ nhật có chữ "DOLCE&GABBANA MILANO/ITALIA" bên trong áo khoác có lót nỉ màu đen; 01 (một) quần bò dài màu trắng xanh, quần bị rách ở 2 bên đầu gối và nhiều vị trí khác; 01 (một) đôi dép màu xám, đôi dép đã rách, cũ bẩn đã qua sử dụng; 01 (một) mũ lưỡi trai màu đen, phía trước mũ có thêu logo và dòng chữ Gucci.
Trả lại cho bị hại Tô Thị N 01 (một) thẻ Căn cước công dân số [...] mang tên Tô Thị N; 01 (một) chiếc ví giả da màu nâu có dập vân, kích thước 20cm x 10cm, ví có 02 ngăn có khóa kéo để đóng, mở; số tiền 1.798.000 đồng (một triệu bảy trăm chín mươi tám nghìn đồng) trong 01 phong bì niêm phong, mặt trước ghi: “ Tiền Việt Nam: 1.798.000 đồng (một triệu bảy trăm chín mươi tám nghìn đồng) vụ Nông Văn Đặng . Trộm cắp tài sản” (đã có Kết luận giám định số 394/KL-CAB, ngày 10/5/2024 của Ngân hàng N1 chi nhánh tỉnh C).
Xác nhận vật chứng của vụ án đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao, nhận vật chứng số 141 ngày 25/7/2024. - Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nông Văn Đ là đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền phải bồi thường. - Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị hại (vắng mặt tại phiên tòa) có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hanh |
Bản án số 117/2024/HS-ST ngày 01/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 117/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nông Văn Đ phạm tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 BLHS
