|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 117/2024/HS-ST
Ngày 01/8/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Hữu Hiển.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Văn Bình, ông Kiều Văn Dậu.
-Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Mai Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Châm - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 122/2024/TLST-HS ngày 16/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2024/QĐXXST-HS ngày 19/7/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh năm 1989;
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1966 và con bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1965; gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ tư; vợ là Nguyễn Thị T1, sinh năm 1994; con: có 03 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Ông Lương Văn L, sinh năm 1961 (đã chết).
Đại diện hợp pháp cho bị hại:
Bà Trần Thị L1, sinh năm 1961 (ủy quyền cho chị Lương Thị D).
Anh Lương Văn D1, sinh năm 1990 (ủy quyền cho chị Lương Thị D.
Chị Lương Thị D, sinh năm 1987.
Đều trú tại: Khu Đ, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
Chị Lương Thị D xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn H có giấy phép lái xe ô tô số [...], hạng B2 do Sở G cấp ngày 21/11/2018 có giá trị đến 21/11/2028. Khoảng hơn 14 giờ 30 phút ngày 28/01/2024, H một mình điều khiển xe ô tô Toyota Cross màu trắng, biển kiểm soát (BKS) 99A-518.15 trên đường C hướng đường liên xã Đ - xã T về nhà. Trên đường đi, điện thoại di động của H rơi xuống ghế phụ phía trước của xe ô tô. H không dừng xe, không giảm tốc độ mà vẫn tiếp tục điều khiển xe trên đường, đồng thời cúi xuống nhặt điện thoại, vì vậy, xe ô tô BKS 99A- 518.15 do H điều khiển đi lấn sang phần đường dành cho xe đi ngược chiều và đâm vào xe mô tô BKS 99L5-6611 do ông Lương Văn L, sinh năm 1961, nơi cư trú: khu Đ, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh điều khiển bên phần đường ngược chiều. Hậu quả, ông L bị ngã xuống đường bất tỉnh, được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện và sau đó tử vong.
Cùng ngày, Nguyễn Văn H đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám nghiệm phương tiện liên quan.
Kết quả khám nghiệm hiện trường:
Hiện trường xảy ra tai nạn là đoạn đường liên xã Đ - T thuộc địa phận thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Mặt đường được trải bê tông bằng phẳng, không có vạch kẻ sơn chia làn đường, lòng đường rộng 7m.
Tại hiện trường phát hiện:
- 03 vết cày xước trên phần đường Đ đi T:
+ Vết cày (1) có kích thước (35 x 2,5) cm; điểm đầu cách mép đường chuẩn là 95 cm, cách mốc là 5,72m; điểm cuối cách mép đường chuẩn 92cm.
+ Vết cày (2) có kích thước (80 x 16) cm; điểm đầu cách điểm đầu vết cày (1) là 138 cm, điểm đầu cách mép đường chuẩn 45cm; điểm cuối cách mép đường chuẩn là 35 cm.
+ Vết cày (3) có kích thước (8,2 x 0,011) m, điểm đầu cách điểm đầu vết cày (2) là 128 cm và cách mép đường chuẩn là 74 cm; điểm cuối cách mép đường chuẩn là 36 cm.
- Tại cột mốc (cột điện TBA Đại Lâm 3) phát hiện 01 dấu vết vỡ bê tông để lộ phần sắt xi bên trong, vết vỡ có kích thước (22 x 32) cm, điểm cao nhất cách mặt đường 87 cm.
Kết quả khám nghiệm phương tiện:
Xe mô tô BKS 99L5- 6611:
- Đầu tay lái bên phải có dấu vết xước kích thước (1,3 x 0,7) cm. Đầu tay phanh có dấu vết xước kích thước (1 x 0,8) cm. Mặt trước lỗ chân gương bên phải và đầu phía trong tay phanh có dấu vết xước kích thước (5 x 4,5) cm. Vỡ mất mảnh nửa bên phải phía trên ốp nhựa trước đầu xe. Khuyết toàn bộ đèn pha và đèn báo rẽ bên phải. Mặt đèn báo rẽ trước bên trái và ốp nhựa có dấu vết xước kích thước (12 x 7) cm.
- Mặt trước nửa bên trái ốp nhựa phía trước của xe có dấu vết in trượt kích thước (24 x 14) cm. Điểm thấp nhất của dấu vết cách mặt đất 77 cm, điểm cao nhất cách mặt đất 90 cm. Mặt trước bên phải ốp nhựa này có dấu vết xước kích thước (15 x 5) cm, có chiều từ trước về sau, từ trái sang phải.
- Vỡ mất mảnh 2 cánh yếm, giảm sóc bên trái bánh trước có dấu vết cong về sau tại đầu trên gắn với chạc 3 vành bánh trước biến dạng, thành lốp bên phải bánh trước ép sát vào giảm sóc bên phải. Mặt thành lốp và mép vành bên trái phía trước có vết trượt xước bám chất màu trắng kích thước (16 x 5) cm. Mặt trước ốc đầu trục bên phía bánh trước bám chất màu trắng kích thước (1, 2 x 01) cm.
- Cần đạp phanh cong về sau xuống dưới. Mặt trước ngoài bàn đạp phanh có dấu vết xước kích thước (4,5 x 1,5) cm Mặt ngoài ốp nhựa sườn bên phải có dấu vết xước kích thước (14 x 3) cm, chiều từ trước về sau.
- Mặt ngoài bên phải tay nắm sau xước kích thước (8, 5 x 02) cm chiều từ trước về sau, từ trên xuống dưới. Mặt ngoài ốp ống xả và phần đuôi ống xả có dấu vết xước bám chất màu trắng kích thước (19 x 07) cm. Bàn để chân trước bên phải cong về sau, ép sát vào cần đạp khởi động. Cụm đèn hậu và phần nhựa chắn bùn gắn biển số có dấu vết gẫy rời ra.
Xe ô tô BKS 99A-518.15
- Toàn bộ nắp capô dồn đẩy về sau lên trên. Cạnh trước nắp capô có vết lõm về sau kích thước (50 x 10) cm, vị trí dấu vết ở giữa mặt nắp capô.
- Nửa bên trái mặt calăng và logo vỡ rời ra và dồn đẩy về sau. Mặt trước calăng này có dấu vết trượt không liên tục kích thước (16 x 14) cm. Dấu vết cách logo giữa mặt calăng 11 cm và cách mặt đất điểm thấp nhất là 64 cm, cách mặt đất điểm cao nhất là 77 cm.
- Mặt đèn báo rẽ phía trước bên trái có dấu vết trầy xước bám chất màu trắng kích thước (5,5 x 05)cm, chiều xước từ phải sang trái, phần đầu bên trái thanh cung ngang phía trước lưới tản nhiệt có dấu vết cong lõm về sau. Vị trí cong cách đầu bên trái khung 25 cm, cách mặt đất 44 cm. Bề mặt khung tại vị trí này có dính mảnh nhựa cản trước, mảnh nhựa có dấu vết xước bám chất màu trắng kích thước (15 x 10)cm.
- Nửa bên trái khung đỡ phía dưới lưới tản nhiệt và mặt ốp nhựa gầm có dấu vết lõm về sau kích thước (45 x 15) cm. Lưới tản nhiệt tại vị trí này lõm về sau. Bùng 02 túi khí phía trước và trong xe. Bung túi khí đầu gối phía trước vị trí ghế lái
Kết quả khám nghiệm tử thi ông Lương Văn L:
Khám ngoài xác định:
- Vùng đỉnh bên trái cách đường giữa 1,5 cm và trên đường chân tóc gáy 16 cm có vết rách da nằm ngang kích thước (2,5 x 0,5) cm, bề mép nham nhở, còn cầu tổ chức ở đáy vết thương, xung quanh xây sát da, phù nề bầm tím diện tích (15 x 13)cm. Vùng trán bên trái ngay trên đầu ngoài cung lông mày trái đến vùng cánh mũi trái và vùng cằm trái có diện xây sát da, rách da và bầm tím không liên tục kích thước (18 x 8) cm, bầm dập niêm mạc môi trên, môi dưới bên trái kích thước (5 x 3) cm.
- T2 ngực mất vững, vùng ngực hai bên dưới hõm ức 10 cm có diện sây sát da và bầm tím kích thước (20 x 18) cm, tập trung nhiều hơn ở bên trái vùng mạng sườn bên trái ngay trên mào chậu và cách đường giữa 15 cm có diện xây sát da bầm tím kích thước (7x 4) cm. Vùng hạ sườn bên trái có vết bầm tím kích thước (12 x 11) cm.
- Mặt sau khuỷu tay phải có vết bầm tím kích thước (3,5 x 1)cm. Gẫy kín 1/3 dưới xương quai tay phải. Mặt sau 1/3 dưới dưới cẳng tay phải đến mu bàn tay phải; Mặt sau ngoài 1/3 dưới cẳng tay trái đến mu bàn tay trái; Mặt ngoài mông phải; Mặt trước trong 1/3 giữa đùi phải; Mặt trước khớp gối bên phải; Mặt trước 2/3 dưới cẳng chân phải; Mặt ngoài 1/3 trên đùi trái có diện sây xát da không liên tục; Mặt trước 1/3 dưới đùi trái có diện rách da không liên tục kích thước (5 x 3) cm, gẫy phức tạp 1/3 dưới xương đùi bên trái. Mặt trước toàn bộ cẳng chân trái có diện xây sát rách da, bầm tím kích thước (30 x 18) cm. Gãy kín phức tạp 1/3 trên hai xương cẳng chân trái. Vùng thắt lưng bên phải cách đường giữa 10 cm có diện xây sát da kích thước (7 x3) cm.
Giải phẫu tử thi: Giải phẫu vùng ngực thấy bầm tụ máu cơ vùng thành ngực hai bên không liên tục diện (25 x 20) cm. Gãy khung trước xương sườn số 3 đến số 9 bên phải, gãy cung trước xương sườn số 3 đến số 9 bên trái. Khoang lồng ngực bên phải có chứa 1,5 lít máu. Bầm dập tụ máu toàn bộ trung thất và mặt trước van tim. Dầy dính màng phổi trái. Bầm tụ máu dọc hai bên đốt sống vùng cột sống, vùng đốt sống ngực. Phổi phải xẹp, mặt cắt phổi khô, xốp. Van tim còn nguyên vẹn, trong bao tim có ít dịch màu hồng. Bầm dập tụ máu vùng nền tim và quanh động mạch chủ. Các van tim mềm mại, không phát hiện tổn thương.
Giải phẫu vùng bụng: Da cơ vùng bụng, khoang ổ bụng có chứa máu không đông, rách bờ trên ngoài gan phải kích thước (6 x 5) cm. Bầm dập tụ máu các quai ruột, mật, đại tràng và khối túi tuỵ. Mở dạ dày thấy trong có nhiều thức ăn đã nhuyễn xen lẫn thức ăn còn rõ hạt.
Tại Bản kết luận giám định số 547/KL- KTHS ngày 08/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
“Nguyên nhân chết của Lương Văn L, sinh năm 1961, HKTT: phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh là đa chấn thương: chấn thương ngực kín, chấn thương bụng kín và gây xương đùi phải”.
Tại Bản kết luận giám định số 515/KL- KTHS ngày 01/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
“Mẫu máu ghi thu giữ của Lương Văn L, sinh năm 1961, HKTT: Đ, V, thành phố B, Bắc Ninh không tìm thấy thành phần E (cồn).
Tại Bản kết luận giám định số 684/KL- KTHS ngày 11/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
“1) Dẫu vết in, trượt xước tại mặt ốp nhựa trước trên xe mô tô biển số 99L5-6611 (ảnh 5 trong bản ảnh giảm định) có chiều hướng từ trước về sau, phù hợp với dấu vết trượt xước tại mặt ca lăng trên xe ô tô biển số 99A- 518.15 (ảnh 6 trong bản ảnh giảm định). Dẫu vết va chạm trên xe ô tô biển số 99A- 518.15 tại vị trí này có chiều hướng từ trước về sau.
2) Không xác định được vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện”.
Ngay sau khi xảy ra tai nạn, Công an huyện Y đã đo nồng độ cồn trong hơi thở và test thử nước tiểu của Nguyễn Văn H. Kết quả: Nồng độ cồn trong hơi thở của H là 0.000 mg/1 lít khí thở. Nước tiểu của H âm tính với các chất ma túy mà que thử có thể phát hiện.
Tại Bản Cáo trạng số 121/CT-VKS-YP ngày 15/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố là đúng, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo
Chị Lương Thị D là người đại diện theo ủy quyền của đại diên hợp pháp cho bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng qua lời khai có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo H đã bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền 500.000.000 đồng. Gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội; sau khi đưa ra các chứng cứ, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
-Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
-Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt: Nguyễn Văn H từ ....đến .... tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ .... đến .... tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh giám giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số 27018018608 do Sở giao thông vận tải tỉnh G cấp ngày 21/11/2018 mang tên Nguyễn Văn H.
Lưu hồ sơ 01 đĩa lưu video hiện trường ghi lại hành vi phạm tội của bị cáo đĩa DVD hỏi cung của bị cáo.
Sau khi nghe Kiểm sát viên phát biểu luận tội, bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Tại phần nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện theo đúng thẩm quyền về trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo H thành khẩn nhận tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 28/01/2024, tại đoạn đường liên xã Đ - T thuộc địa phận thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Văn H có giấy phép lái xe ô tô, điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Toyota Cross BKS 99A- 518.15 không chú ý quan sát, đi lấn sang phần đường của xe đi ngược chiều nên xe ô tô do H điều khiển đã đâm vào xe mô tô Honda Wave BKS 99L5- 6611 do ông Lương Văn L điều khiển đi ở phần đường ngược chiều với chiều đi của H. Hậu quả, ông Lương Văn L bị đa chấn thương và tử vong.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi vô ý. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp tới trật tự an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của người khác được pháp luật bảo vệ. Vì vậy phải xử lý nghiêm đối với bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Bị cáo đã bồi thường theo thỏa thuận cho gia đình bị hại tổng số tiền là 500.000.000 đồng và đại diện gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Như vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự. Do đó không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội, cho bị cáo cải tạo tại địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đảm bảo giáo dục đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho đại diện gia đình bị hại tổng số tiền 500.000.000 đồng. Đại diện gia đình bị hại không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo nên không xem xét giải quyết.
[ 6 ] Về vật chứng:
Đối với chiếc chiếc xe mô tô BKS nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 99L5- 6611 là tài sản của ông Lương Văn L. Xe ô tô nhãn hiệu Toyota Cross BKS 99A- 518.15 là tài sản của ông Nguyễn Văn H. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã trả lại chiếc xe ô tô BKS 99A- 518.15 cùng giấy tờ xe cho Nguyễn Văn H; Trả lại chiếc xe mô tô BKS 99L5- 6611 cùng giấy tờ xe cho chị Lương Thị D. Chị D không yêu cầu bồi thường gì do vậy không đặt ra xem xét.
Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe ô tô 270181018608, hạng B2 do Sở G cấp ngày 21/11/2018 mang tên Nguyễn Văn H.
Lưu hồ sơ 01 đĩa lưu video hiện trường ghi lại hành vi phạm tội của bị cáo, đĩa DVD hỏi cung của bị cáo.
[4] Về án phí Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt: Nguyễn Văn H ..... tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là .....tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 01/8/2024.
Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh giám giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
3.Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe ô tô số [...], hạng B2 do Sở G cấp ngày 21/11/2018 mang tên Nguyễn Văn H.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày .... tháng .... năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Phong).
Lưu hồ sơ 01 đĩa lưu video hiện trường ghi lại hành vi phạm tội của bị cáo.
4.Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5.Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
Báo cho bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đại diện hợp pháp cho bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả bản án hoặc ngày niêm yết kết quả bản án.
|
Nơi nhận: -TAND tỉnh Bắc Ninh; -VKSND tỉnh Bắc Ninh -VKSND huyện Yên Phong; -Công an huyện Yên Phong; -Chi cục THADS huyện Yên Phong; -Những người TGTT; -Lưu HS, VP. |
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Hữu Hiển |
Bản án số 117/2024/HS-ST ngày 01/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 117/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Hùng - Vi phạm giao thông
