Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 117/2025/HS-ST

Ngày 27-6-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Lộc

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hà Thị Nga

Ông Nguyễn Văn Hạnh

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Mạnh Cường, là Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Quỳnh Anh Thư, Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 6 năm 2025 Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 97/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 454/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:

Bùi Đình D, sinh ngày 28 tháng 3 năm 1979 tại Hải Phòng. Đăng ký hộ khẩu thường trú: Số B T, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Tổ dân phố số B, phường A, quận A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Đức L và bà Phạm Thị T; có vợ Nguyễn Thị M và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Có 2 tiền án đã xóa, tại Bản án số 518/2009/HSST ngày 28/9/2009, Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; tại Bản án số 09/2022/HSST ngày 23/02/2022, Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xử 12 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; bị bắt tạm giữ ngày 06/01/2025, tạm giam ngày 10/01/2025; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 25 phút ngày 06/01/2025, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an quận L làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực lòng đường đối diện số G N, quận L, thành phố Hải Phòng phát hiện Bùi Đình D điều khiển xe môtô biển kiểm soát 15B1-138.37 đi từ hướng cầu A về cầu vượt Nguyễn Văn L1 có biểu hiện nghi vấn về tội phạm ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, phát hiện 01 chai nước khoáng nhãn hiệu Quang Hanh rơi từ võng xe xuống đất cách chân phải của D 01 mét. Kiểm tra chai nước, phát hiện giữa phần tem nilon và vỏ chai có 01 túi nilon mép viền đỏ, kích thước 04 cm x 03 cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng, nghi là ma túy. Tổ công tác đã đưa D cùng vật chứng về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra, còn thu giữ của D 01 xe môtô biển kiểm soát 15B1-138.37, 01 điện thoại di động Samsung màu trắng.

Tại Kết luận giám định số 38/KL-KTHS ngày 10/01/2025 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,94 gam, loại: Methamphetamine.

Bùi Đình D khai nhận: Khoảng 08 giờ ngày 06/01/2025, D đến khu vực cầu Q, quận L mua 500.000 đồng ma túy đá của 01 nữ giới vừa để sử dụng cho bản thân vừa để bán lại kiếm lời. Người nữ giới nhặt dưới chân 01 chai nước khoáng Quang Hanh rồi lấy từ trong người 01 túi nilon mép viền đỏ, kích thước 04 cm x 03 cm, bên trong chứa ma túy đá để vào phần giữa của tem nilon và vỏ chai rồi đưa cho D. D cầm số ma túy đá vừa mua được đem về nhà rồi lấy một ít ra sử dụng một mình bằng bộ sử dụng ma túy đá do D tự chế (sau khi sử dụng xong D đã vất bộ dụng cụ đi). Số ma túy đá còn lại D cất lại vào phần giữa của tem nilon và vỏ chai như ban đầu. Đến 13 giờ 30 phút cùng ngày, Q (không rõ lai lịch, địa chỉ, là bạn xã hội của D) liên lạc với D qua ứng dụng Zalo hỏi mua ma túy đá của D, D đồng ý bán với giá 800.000 đồng và hẹn giao dịch ở khu vực cầu A. Sau đó, D cầm số ma túy đá được cất giấu ở phần giữa của tem nilon và vỏ chai mang đi bán cho Q như đã thỏa thuận. Khi đến khu vực đối diện số G N thì D bị lực lượng Công an phát hiện bắt giữ và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Ngoài ra, D còn khai: Hiện D ở tổ dân phố B, phường A, A, thành phố Hải Phòng cùng với Trần Thị H, sinh năm 1983, nơi cư trú: thôn C, A, T, Hải Phòng. Tiến hành khám xét chỗ D đang ở, không thu giữ gì. H không biết, không liên quan, không được hưởng lợi gì từ việc D mua bán trái phép chất ma túy.

Trần Thị H khai thống nhất với D về việc D ở nhà của H, H không biết, không liên quan, không được hưởng lợi gì từ việc D mua bán trái phép chất ma túy. Trước ngày 06/01/2025 khoảng 05 ngày, H đã sử dụng ma túy đá một mình tại 01 nhà nghỉ, không rõ địa chỉ.

Kiểm tra chi tiết điện thoại và phục hồi dữ liệu đối với điện thoại thu giữ của D, kết quả thể hiện tin nhắn mua bán ma túy giữa D (hiện sử dụng tài khoản Zalo mang tên "Dinhduy”) và tài khoản Zalo tên “Bình Vu” vào ngày 06/01/2025.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L tiến hành xác minh thông tin và yêu cầu Công ty Cổ phần V cung cấp dữ liệu liên quan đến tài khoản Zalo tên “Dinhduy” và “Bình Vu”. Kết quả trả lời: số 0921379431 là tài khoản “Dinhduy”, thời gian khởi tạo tài khoản ngày 02/4/2023, tài khoản bị xóa ngày 21/02/2025. Đối với tài khoản “Bình Vu”, do không cung cấp đủ thông tin nên Công ty Cổ phần V không thể hỗ trợ xác minh tài khoản này. Bộ phận kỹ thuật không lưu thông tin “toàn bộ nội dung tin nhắn (gồm cả hình ảnh), cuộc gọi thoại của các tài khoản Zalo trên”.

Tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu bằng test thử đối với Bùi Đình D và Trần Thị H, kết quả: D và H đều dương tính với M1.

Tại bản cáo trạng số 100/CT-VKSLC ngày 11 tháng 6 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố Bùi Đình D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai như trên và thừa nhận mục đích mua ma tuý để bán kiếm lời; điện thoại cơ quan điều tra thu giữ bị cáo đã dùng vào việc mua bán ma túy.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Bùi Đình D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Đình D mức án từ 42 đến 48 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Do bị cáo không có thu nhập ổn định và không có tài sản riêng; đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy: Lượng ma túy còn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói đã được niêm phong trong bì giấy có dấu niêm phong số: 38MT/PC09 và 01 vỏ chai nước khoáng nhãn hiệu Quang H1.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng thu giữ của bị cáo.

Đối với xe môtô biển kiểm soát 15B1-138.37, quá trình điều tra, xác định thuộc sở hữu hợp pháp của Trần Thị H, khi cho D mượn xe, H không biết D sử dụng xe để đi giao ma túy. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô trên cho H, nên không đề nghị Hội đồng xét xử xét giải quyết.

Đối với người nữ giới bán ma túy cho D và người thanh niên tên Q (theo lời khai của D) liên hệ mua ma túy của D ngày 06/01/2025, do D không biết lai lịch, địa chỉ và kết quả xác minh không thu thập được thông tin, dữ liệu có liên quan nên Cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra, xử lý; nên không đề nghị Hội đồng xét xử xét giải quyết.

Đối với Trần Thị H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nên không đề nghị Hội đồng xét xử xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại giai đoạn điều tra, truy tố, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

- Về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”:

  1. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ tài liệu khác tại hồ sơ và vật chứng thu giữ cho thấy: Hồi 14 giờ 25 phút ngày 06/01/2025, Bùi Đình D đã cất giữ trái phép 0,94 gam Methamphetamine nhằm mục đích bán lại kiếm lời thì bị bắt quả tang tại khu vực lòng đường đối diện số G N, quận L, thành phố Hải Phòng. Nên có đủ cơ sở kết luận bị cáo Bùi Đình D đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
  2. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm đến trật tự trị an xã hội, là tác nhân làm phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội khác. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nghiêm trọng. Vì vậy cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân của bị cáo.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

  1. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  1. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; Kiểm sát viên tham gia phiên toà có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi lượng hình là có căn cứ chấp nhận.

Về nhân thân: Bị cáo có 02 tiền án đã được xóa; tại Bản án số 518/2009/HSST ngày 28/9/2009, Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (bị cáo chấp hành xong phần án phí ngày 23/7/2016); tại Bản án số 09/2022/HSST ngày 23/02/2022, Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xử 12 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (bị cáo chấp hành xong phần án phí ngày 27/5/2022). Nhưng qua đây cho thấy bị cáo là người có nhân than xấu, khó giáo dục cải tạo.

- Về hình phạt áp dụng:

  1. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tang nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về nhân thân, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm bắt bị cáo cách ly xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

- Về hình phạt bổ sung:

  1. Bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp với thực tế và ý kiến đề nghị của Kiểm sát Viên tham gia phiên toà.

- Về xử lý vật chứng:

  1. Lượng ma túy thu giữ của bị cáo có khối lượng 0, 94 gam, sau khi lấy đi giám định lượng còn lại và cùng toàn bộ vỏ bao gói mẫu vật được niêm phong trong 01 bì giấy có dấu niêm phong số 38MT/PC09; xét đây là vật cấm lưu hành, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu huỷ.
  2. Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng, xét thấy bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
  3. Đối với 01 chai nước khoáng nhãn hiệu Quang Hanh thu giữ của bị cáo; xét không có giá trị sử dụng; căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu huỷ.

- Về án phí:

  1. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

- Về quyền kháng cáo:

  1. Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Bùi Đình D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bùi Đình D 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06 tháng 01 năm 2025.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Tịch thu tiêu hủy: 01 bì giấy theo niêm phong số 38MT/PC09 đựng số ma tuý còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu vật thu giữ của bị cáo có chữ ký của những người liên quan; 01 chai nước khoáng nhãn hiệu Quang H1.
  • Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng, số IMEI 352379550630547.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13 tháng 6 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H với Chi cục thi hành án dân sự quận Lê Chân).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 6; Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - Công an Tp. Hải Phòng (PV 06 + PC10);
  • - Trại tạm giam Công an Hải Phòng;
  • - Bị cáo + THAHS;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - Công an + UBND phường Vĩnh Niệm, Tp. Hải Phòng;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Bá Lộc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 117/2025/HS-ST ngày 27/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 117/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Đình D Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger