Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ VIỆT YÊN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 117/2025/HS-ST

Ngày 18-06-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Hữu Luyện

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Giáp Huy Tưởng

Bà Dương Thị Hoa

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Duy Tuyên - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Sỹ- Kiểm sát viên.

Ngày 18/6/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 109/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 05 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2024/HSST-QĐ ngày 04/6/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nông Mạnh C, sinh năm 2002, tại huyện L, tỉnh Lạng Sơn; giới tính: nam; tên gọi khác: không; nơi cư trú: Bản L, xã K, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Nùng; tôn giáo: không; đảng, chính quyền, đoàn thể: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; con ông Nông Văn N và bà Nông Thị T; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/3/2025 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam- Công an tỉnh B; có mặt,

- Bị hại:

  • + Anh Đào Nam T1, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; vắng mặt.
  • + Chị Lý Thị Y, sinh năm 1998; địa chỉ: Tổ dân phố L, phường T, thị xã C, tỉnh Bắc Giang; có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Thân Hồng Q, sinh năm 1994; địa chỉ: tổ dân phố T, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; vắng mặt
  2. Ông Nông Văn N, sinh năm 1979; bà Nông Thị T, sinh năm 1979; có mặt. Nơi cư trú: Bản L, xã K, huyện L, tỉnh Lạng Sơn

Người làm chứng: Anh Nguyễn Danh T2, sinh năm 1969; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 04/3/2025, Nông Mạnh C, sinh năm 2002, trú tại thôn B, xã K, huyện L, tỉnh Lạng Sơn thuê phòng trọ số “06” nhà trọ của chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1971, ở tổ dân phố N, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang để ở và đi tìm việc làm. Do không có tiền chi tiêu, C nảy sinh ý định vào Công ty trách nhiệm hữu hạn L, ở Khu Công nghiệp Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (viết tắt là Công ty L) là nơi C làm việc trước đây nhưng sau đó bỏ việc để trộm cắp tài sản của công nhân. Trong các ngày 06/3/2025 và 08/3/2025, C đã hai lần sử dụng thẻ công nhân của C được phát trước khi nghỉ việc tại Công ty L đi vào trong Công ty thực hiện 02 lần trộm cắp được tài sản của công nhân, cụ thể:

Lần thứ nhất: khoảng 07 giờ 30 phút ngày 06/3/2025, C đeo thẻ công nhân mang tên C do Công ty L cấp trước khi nghỉ việc, đi bộ qua cổng bảo vệ vào trong Công ty L, mục đích trộm cắp tài sản. Bảo vệ Công ty không phát hiện C đã nghỉ việc nên cho đi vào trong Công ty. C đi bộ đến khu vực tủ để đồ cá nhân của công nhân xưởng E, thấy tủ để đồ được khóa bằng khóa số bấm mật khẩu, xung quanh không có người. C đi đến tủ đồ số “A343” cấp cho anh Đào Nam T1, sinh năm 1991, trú tại thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, dùng tay nhập số ngẫu nhiên vào ổ khóa thì bấm mở được khóa tủ. C mở cánh tủ kiểm tra phát hiện có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max-128GB, màu vàng, bên ngoài có vỏ ốp nhựa dẻo trong suốt, lắp 01 thẻ sim là tài sản của anh T1 để trong tủ trước khi vào xưởng làm việc. C lấy trộm điện thoại di động của anh T1 cất giấu vào trong túi quần đang mặc. Sau đó, C đóng cửa tủ lại, bỏ ra khỏi Công ty. Khi ra khỏi Công ty L, C bỏ điện thoại Iphone 12 Pro max trộm cắp ra nhập ngẫu nhiên mật khẩu mở khóa điện thoại “0000” thì mở được khóa. C đăng xuất tài khoản Icloud của điện thoại, tháo sim và vỏ ốp điện thoại trộm cắp được vứt đi rồi đi bộ về phòng trọ của C cất giấu. Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 07/3/2025, C đi bộ mang theo điện thoại Iphone 12 Pro max trộm cắp của anh T1 đến cửa hàng điện thoại “Hồ N" ở tổ dân phố N, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang, do anh Thân Hồng Q, sinh năm 1994, trú tại tổ dân phố T, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang làm chủ để bán. Tại đây, C nói dối điện thoại Iphone 12 Pro max là tài sản của C rồi bán cho anh Q lấy số tiền 3.500.000 đồng. C tiếp tục mua mới của anh Q 01 điện thoại Iphone 6S với giá 1.500.000 đồng để làm phương tiện liên lạc hàng ngày. Anh Q trừ một phần số tiền bán điện thoại trộm cắp vào tiền mua điện thoại di động mới rồi dùng tài khoản 97967536868 Ngân hàng T4 mang tên Thân Hồng Q chuyển trả C số tiền bán điện thoại còn lại 2.000.000 đồng vào tài khoản 0987036927 Ngân hàng V mang tên Nông Mạnh C. Tiếp đó, C sử dụng số tiền bán điện thoại trộm cắp còn lại chi tiêu cá nhân hết.

Lần thứ hai: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 08/3/2025, C tiếp tục sử dụng thẻ công nhân mang tên C do Công ty L ICT 1 cấp trước khi nghỉ việc đi qua được cổng bảo vệ, đi vào trong Công ty L để tiếp tục trộm cắp tài sản của công nhân. C đi bộ đến khu vực tủ để đồ cá nhân của công nhân xưởng D, thấy tủ để đồ được khóa bằng khóa số bấm mật khẩu, xung quanh không có người. C đi đến tủ đồ số “14” của chị Lý Thị Y, sinh năm 1998, trú tại tổ dân phố L, phường T, thị xã C, tỉnh Bắc Giang, dùng tay nhập dãy số ngẫu nhiên vào ổ khóa thì mở được khóa tủ. Chung mở cánh tủ phát hiện bên trong có 01 chìa khóa xe mô tô thông minh, loại khóa điện tử của xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xanh đen, biển số 98E1-777.31 (viết tắt là xe mô tô biển số 98E1-777.31) của chị Y cất trong tủ trước khi vào xưởng làm việc. C lấy chìa khóa điện tử xe mô tô của chị Y cầm ở tay, khóa cánh tủ lại, rồi đi đến nhà để xe công nhân tìm xe mô tô của chị Y để trộm cắp. C đi đến tầng 3 nhà xe 5 tầng của Công ty, dùng chìa khóa bấm mở tìm xe thì thấy xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xanh đen, biển số 98E1-777.31 dựng ở nhà xe kêu bíp bíp và nháy đèn. C đi đến vị trí xe mô tô biển số 98E1-777.31 bấm mở khóa, mở cốp xe kiểm tra không phát hiện có tài sản gì. C ngồi lên xe mô tô biển số 98E1-777.31 của chị Y, đề xe nổ máy rồi điều khiển ra khỏi Công ty L tìm chỗ bán xe; trên đường đi, C vứt bỏ thẻ công nhân mang tên C dùng vào trộm cắp tài sản. Khoảng 09 giờ cùng ngày, C điều khiển xe mô tô biển số 98E1-777.31 đến cửa hàng mua bán xe mô tô cũ của anh Nguyễn Danh T2, sinh năm 1969, ở tổ dân phố N, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang để bán xe trộm cắp. Tại đây, C nói dối anh T2 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xanh đen, biển số 98E1-777.31 là tài sản của C nhưng bị mất giấy tờ xe, muốn bán với giá 10.000.000 đồng. Anh T2 thấy xe mô tô bán không có giấy tờ nên không mua. Cùng lúc này, có 02 người đàn ông không biết họ tên, địa chỉ đi vào cửa hàng của anh T2 thấy C bán xe mô tô nên đã đồng ý mua xe mô tô biển số 98E1-777.31 với số tiền 4.800.000 đồng. Hai người đàn ông trả tiền mặt cho C rồi điều khiển xe mô tô biển số 98E1-777.31 bỏ đi, C cũng bỏ đi khỏi cửa hàng và ăn tiêu hết số tiền bán xe trộm cắp.

Trong các ngày 09/3/2025, 10/3/2025, lần lượt anh Đào Nam T1, chị Lý Thị Y đến Đồn Công an Q1, thị xã V trình báo bị mất trộm điện thoại di động, xe mô tô nêu trên khi để tại Công ty L. Cùng ngày 10/3/2025, thấy hành vi phạm tội đã bị phát hiện, Nông Mạnh C đã đến Đồn Công an Q1 đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội. Sau đó, Đồn Công an Q1 đã bàn giao C cùng tài liệu có liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B để điều tra theo thẩm quyền.

Ngày 10/3/2025, Cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trường nơi C thực hiện trộm cắp tài sản của công nhân tại Công ty L nêu trên và thu giữ được hình ảnh video ghi lại việc C trộm cắp điện thoại di động của anh T1 và trộm cắp xe mô tô của chị Y vào hai ngày nêu trên do Camera an ninh Công ty ghi lại. Đồng thời, thu giữ của anh T3 Hồng Quân: 01 điện thoại Iphone 12 Promax-128GB, màu vàng, số seri F2MFLLB70D41 mua của C vào ngày 07/3/2025.

Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở trọ của C tại phòng trọ số “06” nhà trọ của chị Nguyễn Thị H, ở tổ dân phố N, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang; kết quả đã thu giữ được trong phòng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu hồng.

Cơ quan điều tra tiến hành cho anh Thân Hồng Q, anh Nguyễn Danh T2 nhận dạng người qua bản ảnh để xác định người bán điện thoại cho anh Q và mang xe mô tô đến bán cho anh T2, trong đó có ảnh của C; kết quả cả hai đã nhận ra C. Tiếp đó, Cơ quan điều tra tiến hành cho Nông Mạnh C, anh Đào Nam T1 nhận dạng điện thoại di động thu giữ của anh Q, kết quả anh T1 xác định là tài sản của anh T1 bị mất trộm, C xác định là tài sản đã trộm cắp nêu trên rồi bán cho anh Q.

Tại Kết luận định giá tài sản số 35/KL- HĐĐGTS ngày 17/3/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã V kết luận: tổng trị giá tài sản của anh Đào Nam T1 bị trộm cắp ngày 06/3/2025 là 5.545.000 đồng, (trong đó: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax- 128GB, màu vàng, trị giá 5.500.000 đồng, 01 vỏ ốp nhựa dẻo trong suốt trị giá 20.000 đồng, 01 phôi sim trị giá 25.000 đồng); xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xanh đen, biển số 98E1-777.31 của chị Lý Thị Y bị trộm cắp ngày 08/3/2025 trị giá 23.170.000 đồng. Tổng trị giá tài sản C trộm cắp trong 02 lần là 28.715.000 đồng.

Bản cáo trạng số: 111/CT-VKS ngày 26/05/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên truy tố bị cáo Nông Mạnh C về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng nêu.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố trình bầy luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố tại bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm b điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nông Mạnh C từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 05 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/3/2025. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu xung công 01 điện thoại Iphone 6S.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, bị cáo C phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã V, Điều tra viên, (nay là Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B) Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nông Mạnh C đã hoàn toàn khai nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Trong các ngày 06/3/2025 và 08/3/2025, Nông Mạnh C đã hai lần sử dụng thẻ công nhân của C được phát trước khi nghỉ việc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn L, ở Khu Công nghiệp Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang đi vào trong Công ty thực hiện 02 lần trộm cắp được tài sản của công nhân, cụ thể:

Lần thứ nhất: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 06/3/2025, C đến khu vực tủ để đồ cá nhân của công nhân xưởng E Công ty L, mở tủ đồ số “A343” cấp cho anh Đ Nam Tư là công nhân rồi trộm cắp được 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max-128GB, màu vàng, bên ngoài có vỏ ốp nhựa dẻo trong suốt, lắp 01 thẻ sim là tài sản của anh T1 có tổng trị giá 5.545.000 đồng.

Lần thứ hai: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 08/3/2025, C tiếp tục đến khu vực tủ để đồ cá nhân của công nhân xưởng D, mở tủ đồ số “14” cấp cho chị Lý Thị Y là công nhân rồi trộm cắp 01 chìa khóa xe mô tô thông minh, loại khóa điện tử của xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xanh đen, biển số 98E1-777.31, xe có trị giá 23.170.000 đồng, là tài sản của chị Y. Sau đó, C mang chìa khóa ra nhà xe của Công ty lấy trộm được xe mô tô nêu trên, điều khiển đi khỏi Công ty.

Toàn bộ điện thoại di động, xe mô tô trộm cắp nêu trên, C đem bán cho người khác lấy tiền chi tiêu cá nhân hết. Cơ quan điều tra đã thu giữ được điện thoại di động để trả lại bị hại. Tổng trị giá tài sản C trộm cắp trong hai lần nêu trên là: 28.715.000 đồng.

[3] Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đủ độ tuổi và năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp nên đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản", như vậy bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên đã truy tố bị cáo Nông Mạnh C về tội “Trộm cắp tài sản” khoản 1 Điều 173, Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do vậy cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo.

[5] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy:

[6] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt.

[7] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo 02 lần thực hiện trộm cắp tài sản, mỗi lần đã cấu thành tội phạm nên phải chịu tình tiết “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[8] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã ra đầu thú; tác động gia đình bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả cho bị hại Y; được bị hại Y xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[9] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo phạm tội nhiều lần giá trị tài sản lớn nên cần cách ly bị cáo một thời gian cần thiết để giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[10] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[11] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: chị Lý Thị Y đã được bố, mẹ bị cáo C bồi thường số tiền 23.170.000 đồng. Hiện tại anh T1, chị Y, anh Q không yêu cầu bồi thường dân sự; ông N, bà T không yêu cầu số tiền bị cáo trả lại số tiền đã bồi thường thay bị cáo do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax 128GB nêu trên cho anh Đào Nam T1; Đối với 01 điện thoại Iphone 6S là tài sản bị cáo dùng tiền do phạm tội mà có; anh Thân Hồng Q, bị cáo Nông Mạnh C đề nghị tịch thu sung công, nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

[12] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 135, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

[13] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

VÌ CÁC LẼ TRÊN,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về hình phạt: Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  2. Xử phạt Nông Mạnh C 01 năm 02 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” thời hạn tù tính từ ngày 11/3/2025.

  3. Về vật chứng: áp dụng Điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
  4. Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 6S.

  5. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 135, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
  6. Bị cáo Nông Mạnh C phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự: thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo, bị hại người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Tòa án ND tỉnh Bắc Giang;
  • - Viện Kiểm Sát ND tỉnh Bắc Giang;
  • - Viện Kiểm Sát ND thị xã Việt Yên;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Công an tỉnh Bắc Giang (CQCSĐT+ CQTHAHS+ Phòng hồ sơ nghiệp vụ);
  • - Chi cục thi hành án DS thị xã Việt Yên;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Hữu Luyện

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 117/2025/HS-ST ngày 18/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 117/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nông Mạnh C bị Viện kiểm sát truy tố về tội tội “Trộm cắp tài sản”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger