TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NINH BÌNH
Bản án số: 117/2025/HS-ST
Ngày: 15 - 12 - 2025
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Minh Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Tử Nam
Ông Vũ Văn Tu
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thùy Linh – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Lại Thị Bích Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 12 năm 2025, tại Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 92/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đặng Đình G, sinh năm 1990; Giới tính: Nam; Số CCCD: [...]; ĐKTT và nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường D, quận H, thành phố Hà Nội nay là phường D, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Tự do; con ông Đặng Đình T, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1965; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ 3; vợ Ngô Thị T1, sinh năm 1994 (đã ly hôn); có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 10-4-2018 bị TAND quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành xong hình phạt ngày 12-02-2019. Bị cáo bị bắt từ ngày 21-12-2024 đến ngày 30-12-2024 chuyển tạm giam; hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 02 - Công an tỉnh N. Có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Đặng Đình G theo quy định tại Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Luật sư Nguyễn Đình T2 – Công ty L – Đoàn luật sư tỉnh H.
* Người làm chứng:
- - Nguyễn Trung T3, sinh năm 1990
- - Hà Hoàng V, sinh năm 2001
- - Ngô Duy N, sinh năm 1994
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 15 giờ ngày 15/12/2024, Đặng Đình G ở phòng trọ của mình tại tổ dân phố T, phường D, quận H, thành phố Hà Nội (nay là phường D, thành phố Hà Nội) đã truy cập vào mạng xã hội Telegram mục đích tìm mua ma tuý để sử dụng và bán kiếm lời. Sau khi tìm kiếm, G liên hệ được với một người đàn ông (Gân không nhớ nick telegram) và đặt mua 11.000.000 đồng tiền ma túy (ngựa, đá và ke). Người đàn ông này hướng dẫn G mang tiền để ở gốc cây đầu đường T thuộc xã A, huyện H, thành phố Hà Nội (nay là xã A, thành phố Hà Nội) và sẽ chỉ chỗ cho G lấy ma túy. Sau khi thống nhất, G mang 11.000.000 đồng để tại vị trí theo chỉ dẫn của người đàn ông này và được hướng dẫn đi ra một vị trí cách nơi để tiền khoảng 100 mét lấy gói ma tuý đã có sẵn ở đó. Gân mang gói ma tuý về phòng trọ cất giấu. Đến khoảng 17 giờ ngày 21/12/2024, có người đàn ông tên N1 là người Gân quen biết từ trước có sử dụng số điện thoại 0926.861.xxx (Gân không rõ nhân thân, lai lịch, chỉ biết ở tỉnh Hà Nam), gọi điện qua mạng Zalo mang tên “T” vào tài khoản Z mang tên “Loki” của G được đăng ký bằng số điện thoại 0899.560.xxx hỏi mua 02 (hai) đàn ma túy ngựa (khoảng 400 viên) và bảo G mang xuống thành phố P, tỉnh Hà Nam (nay là tỉnh Ninh Bình). G đồng ý và thống nhất khi gặp nhau sẽ báo giá bán ma túy. Sau đó, G gọi vào số điện thoại 0395.693.xxx của Ngô Duy N, sinh năm 1994, trú tại: Tổ dân phố H, phường D, quận H, thành phố Hà Nội (nay là tổ dân phố H, phường D, thành phố Hà Nội) là người lái xe taxi dịch vụ để thuê N chở về thành phố P, tỉnh Hà Nam (nay là tỉnh Ninh Bình). Khi N điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 29H - 89942 đến đón thì G cầm theo một túi da màu nâu bên trong có 02 (hai) đàn ma túy ngựa (hồng phiến), 02 (hai) túi nilon bên trong có ma túy đá và 01 (một) túi nilon bên trong có ma túy ke. Khi đi đến thành phố P, tỉnh Hà Nam, G gọi điện bảo N1 gửi vị trí để gặp nhau thì được Nam gửi định vị vị trí tại khách sạn L1 thuộc tổ A, phường M, thành phố P, tỉnh Hà Nam (nay là phường P, tỉnh Ninh Bình). Khoảng 19 giờ cùng ngày, xe ô tô đi đến khách sạn L1, G xuống xe cầm theo túi da màu nâu đựng ma túy đi vào đến sảnh khách sạn thì bị Tổ công tác Phòng CSĐTTP về ma túy Công an tỉnh H (nay là tỉnh Ninh Bình) kiểm tra phát hiện nên đã đưa G cùng vật chứng về trụ sở Công an phường M, thành phố P, tỉnh Hà Nam để lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định của pháp luật.
Thu giữ trong túi giả da màu nâu Đặng Đình G đeo trước ngực, gồm: 02 túi nilon màu xanh, kích thước khoảng (10x5)cm, miệng túi có kẹp zíp, trong đó 01 túi bên trong chứa 200 viên nén hình trụ tròn màu đỏ và 01 túi bên trong chứa 199 viên nén hình trụ tròn màu đỏ; 02 túi trong suốt miệng túi có kẹp nhựa viền màu đỏ, kích thước khoảng (6x9)cm, bên trong mỗi túi đều có chất tinh thể màu trắng và 01 túi nilon trong suốt kích thước khoảng (3x4)cm, miệng túi được hàn kín bên trong có chứa tinh thể màu trắng; tất cả được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01;
Ngoài ra còn thu giữ của Đặng Đình G 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, vỏ màu xám, số thuê bao 0944615548 được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT02 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, vỏ màu đen, số thuê bao 0899560424 được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT03;
số tiền 520.000 đồng được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT04; thu giữ của Ngô Duy N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu đỏ được niêm phong trong phong bì ký hiệu KT03;
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đặng Đình G tại tổ dân phố Q, phường D và phòng trọ tại tổ dân phố T, phường D, quận H, thành phố Hà Nội (nay là phường D, thành phố Hà Nội) nhưng không thu giữ đồ vật tài liệu gì.
Ngày 22/12/2024, Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh H giám định mẫu vật ma túy đã thu giữ. Tại bản Kết luận giám định số 1038/KL-KTHS, ngày 29/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H, kết luận:
- Mẫu viên nén trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 38,607 gam (Ba mươi tám phẩy sáu trăm linh bảy gam) loại: Methamphetamine.
- Chất tinh thể màu trắng (M1, M3) trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 17,637 gam (Mười bảy phẩy sáu trăm ba mươi bảy gam) loại: Methamphetamine.
- Chất tinh thể màu trắng (M2) trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 6,130 gam (Sáu phẩy một trăm ba mươi gam) loại: Ketamine.
Ngày 30/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H có văn bản đề nghị Phòng K1 Công an tỉnh H tiến hành phục hồi khai thác dữ liệu điện thoại di động đã tạm giữ của Đặng Đình G (mẫu A1, A2) và Ngô Duy N (mẫu A3).
Tại Văn bản số 01/PC09-KTSĐT ngày 14/01/2025 của Phòng K1, Công an tỉnh H (nay là Công an tỉnh N) trả lời: Trong mẫu vật ký hiệu A1 tìm thấy 1693 mục lịch sử cuộc gọi, 74 mục tin nhắn; trong mẫu vật ký hiệu A2 tìm thấy 2070 mục lịch sử cuộc gọi, 11319 mục tin nhắn; không trích xuất được dữ liệu trong mẫu vật ký hiệu A3 do không mở khóa được màn hình; các dữ liệu trích xuất được lưu trong 01 đĩa DVD.
Quá trình điều tra còn xác định khoảng hơn 17 giờ ngày 16/12/2024, Đặng Đình G đang ở khu vực siêu thị A1 thuộc phường D, quận H, thành phố Hà Nội (nay là phường D, thành phố Hà Nội) thì thấy Hà Hoàng V, sinh năm 2001, trú tại: Xóm T, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ (nay là xã T, tỉnh Phú Thọ) sử dụng tài khoản Zalo có tên là “Văn A” nhắn tin vào tài khoản Zalo có tên “Lucifer” của G được đăng ký bằng số điện thoại 0944.615.xxx để hỏi mua 04 (bốn) viên ma túy hồng phiến và một ít ma túy đá với giá 500.000 đồng. V yêu cầu G mang ma tuý đến địa chỉ số N khu tái định cư M thuộc tổ dân phố H, phường D, quận H, thành phố Hà Nội (nay là phường D, thành phố Hà Nội) giao cho V và nhận tiền. Gân giao cho Nguyễn Trung T3, sinh năm 1990, trú tại: Tổ dân phố T, phường D, quận H, thành phố Hà Nội mang gói ma tuý đến điểm hẹn và lấy tiền của V thì sẽ được trả tiền công là 100.000 đồng. Khi T3 đứng đợi khách đến lấy ma tuý và nhận tiền thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H, thành phố Hà Nội bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Kết luận giám định số 8959/KL-KTHS ngày 26/12/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận số ma tuý Nguyễn Trung T3 nhận của Đặng Đình G để mang đi giao cho khách có tổng khối lượng 0,644 gam Methamphetamine
Ngày 25/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H (nay là Công an thành phố H) đã khởi tố bị can đối với Nguyễn Trung T3 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Ngày 20/02/2025 đã ra Quyết định tách hành vi và chuyển toàn bộ tài liệu liên quan đến việc mua bán ma túy của Đặng Đình G vào ngày 16/12/2024 đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H điều tra theo thẩm quyền.
Các vật chứng cơ quan điều tra thu giữ của Đặng Đình G gồm 01 gói niêm phong mẫu vật hoàn trả sau giám định, 02 điện thoại di động, số tiền 520.000 đồng được chuyển đến Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình để phục vụ quá trình xét xử, thi hành án.
* Về nguồn gốc số ma tuý thu giữ của Đặng Đình G ngày 21/12/2024 và số ma túy G đưa cho Nguyễn Trung T3 để bán cho Hà Hoàng V vào ngày 16/12/2024, G đều khai thông qua mạng xã hội T4 để đặt mua nên không rõ tên, tuổi, địa chỉ người bán. Ngoài lời khai của G không có tài liệu chứng cứ nào khác nên cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh làm rõ nguồn gốc ma tuý và đối tượng bán ma tuý cho G.
Về đối tượng tên N1 là người Gân khai đặt mua ma tuý của G và sử dụng số thuê bao điện thoại 0926.861.xxx. Cơ quan điều tra đã xác minh xác định chủ đăng ký thuê bao số điện thoại 0926.861.xxx là anh Phan Văn K sinh năm 1980, trú tại thôn Đ, xã L, thành phố P, tỉnh Hà Nam (nay là phường L, tỉnh Ninh Bình), hiện anh K không có mặt tại địa phương, không biết đi đâu, làm gì nên Cơ quan điều tra chưa xác minh làm rõ. Đặng Đình G khai không quen biết anh Phan Văn K, do đó Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh làm rõ đối tượng tên N1.
Đối với Ngô Duy Nghĩa là người điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 29H-89942 chở Đặng Đình G đến thành phố P, tỉnh Hà Nam (nay là phường P, tỉnh Ninh Bình) nhưng N không biết việc G đi bán ma túy, không tham gia giúp sức gì nên Cơ quan điều tra không có cơ sở xử lý trách nhiệm hình sự đối với N. Riêng chiếc điện thoại thu giữ của N qua khai thác có một số giao dịch nghi có liên quan đến việc mua bán ma tuý với đối tượng Hoàng Văn T5 sinh năm 2003, trú tại thôn A, xã A, huyện H, thành phố Hà Nội (nay là xóm G, xã A, thành phố Hà Nội) nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N đã có công văn trao đổi và bàn giao điện thoại, tài liệu có liên quan cho Công an xã A để tiếp tục xác minh làm rõ.
* Cáo trạng số 16/CT-VKSNB - P1 ngày 03 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình truy tố Đặng Đình G về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm h khoản 3, khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự;
* Tại phiên toà:
Bị cáo Đặng Đình G thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát tỉnh Ninh Bình truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, không oan. Bị cáo rất ăn năn hối hận về việc làm của mình; mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để sớm được trở về với gia đình, nuôi dạy con cái và làm công dân có ích.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình luận tội: Giữ nguyên nội dung cáo trạng và quyết định đã truy tố. Sau khi xem xét đánh giá tính chất mức độ
hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, VKSND tỉnh Ninh Bình đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Bị cáo Đặng Đình G phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Về hình phạt: Áp dụng điểm h khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Đình G từ 16 năm 06 tháng đến 17 năm 06 tháng tù. Phạt tiền bổ sung đối với bị cáo từ 10 triệu đến 15 triệu đồng.
Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Luật sư Nguyễn Đình T2 trình bày quan điểm bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với tội danh và điều khoản như đã truy tố của Viện kiểm sát. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, đã ly hôn vợ một mình nuôi 02 con nhỏ. Do thời gian đã lâu nên bị cáo không nhớ để khai chứ không phải bị cáo gây khó khăn. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử cho bị cáo mức hình phạt thấp hơn mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo làm nghề tự do nên đề nghị áp dụng mức hình phạt bổ sung ở mức thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản khám xét; Bản kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ kết luận: Ngày 21-12-2024, Đặng Đình G cất giữ trái phép 56,244 gam ma túy loại Methamphetamine và 6,130 gam ma túy loại Ketamine nhằm mục đích để sử dụng và bán kiếm lời thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh H (nay là Công an tỉnh N) phát hiện, bắt quả tang ngay tại sảnh khách sạn L1 thuộc tổ A, phường M, thành phố P, tỉnh Hà Nam (nay là phường P, tỉnh Ninh Bình). Ngoài ra, trước đó ngày 16-12-2024 Đặng Đình G đã đưa cho Nguyễn Trung T3 0,644 gam ma túy loại Methamphetamine để bán cho Hà Hoàng V tại khu vực tòa nhà NO 04-LK09 thuộc tổ dân phố H, phường D, quận H, thành phố Hà Nội (nay là phường D, thành phố Hà Nội).
Như vậy, tổng khối lượng ma túy Đặng Đình G phải chịu trách nhiệm hình sự là 56,888 gam Methamphetamine và 6,130 gam Ketamine
Hành vi nêu trên của Đặng Đình G đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; tội danh và hình phạt được quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình là có căn cứ pháp lý.
Tệ nạn ma tuý đang là hiểm hoạ của cộng đồng xã hội. Phòng chống tệ nạn ma tuý
không chỉ là trách nhiệm của mỗi công dân mà còn là trách nhiệm của cả cộng đồng. Từ tệ nạn ma tuý còn làm phát sinh nhiều tệ nạn, nhiều loại tội phạm khác, làm băng hoại đạo đức, làm khánh kiệt kinh tế của mỗi gia đình, làm hao mòn sức khoẻ con người nếu gia đình nào có con em mắc vào tệ nạn này. Mọi hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ hay sử dụng trái phép chất ma tuý đều bị xử lý nghiêm. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng do động cơ tư lợi, hám lời mà vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Đặng Đình G bán trái phép chất ma túy vào các ngày 16/12/2024 và ngày 21/12/2024 nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo khai báo thành khẩn, thể hiện sự ăn năn hối hận với hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Trên cơ sở xem xét, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo, căn cứ vào lượng ma tuý mà bị cáo đã thực hiện hành vi mua bán trái phép. Hội đồng xét xử thấy, cần ấn định cho bị cáo mức hình phạt trong khung hình phạt bị truy tố và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Như vậy mới tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, mới đáp ứng được công cuộc đấu tranh phòng chống loại tội phạm ma tuý.
[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo mua bán trái phép chất ma tuý với mục đích kiếm lời, vì vậy cần áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo để tăng cường việc ngăn chặn, đẩy lùi tệ nạn ma tuý trong xã hội.
[5] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra và tranh tụng tại phiên toà, xét thấy:
Thu giữ của Đặng Đình G 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, vỏ màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSmax, vỏ màu đen đều đã cũ đã qua sử dụng. Bị cáo đã sử dụng điện thoại di động để liên lạc mua, bán ma túy. Xác định điện thoại dùng vào việc phạm tội nên cần tuyên tịch thu hoá giá sung vào ngân sách Nhà nước.
01 túi da màu nâu đã cũ đã qua sử dụng, không còn giá trị sử dụng cần tuyên tịch thu tiêu hủy
01 phong bì niêm phong số 1038/KTHS, ghi mẫu vật hoàn trả QT01; là vật chứng liên quan đến tội phạm, không còn giá trị sử dụng nên cần tuyên tịch thu tiêu huỷ.
Số tiền 520.000đồng tiền Ngân hàng N2. Xét đây là tiền riêng của bị cáo, không có liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tuyên trả lại cho bị cáo G nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
[6] Về án phí: Bị cáo Đặng Đình G phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Đặng Đình G phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- Áp dụng: điểm h khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Đặng Đình G 17 (Mười bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 21-12-2024.
- Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền bổ sung đối với bị cáo Đặng Đình G 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tuyên tịch thu hoá giá sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, vỏ màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSmax, vỏ màu đen đều đã cũ đã qua sử dụng.
- - Tuyên tịch thu tiêu huỷ: 01 túi da màu nâu đã cũ đã qua sử dụng; 01 phong bì niêm phong số 1038/KTHS, ghi mẫu vật hoàn trả QT01.
- - Tuyên trả lại cho bị cáo Đặng Đình G số tiền 520.000đồng nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
(Chi tiết cụ thể theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/12/2025 giữa Cơ quan CSĐT – Công an tỉnh N với Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình và uỷ nhiệm chi số 591 ngày 15-12-2025 giữa Công an tỉnh N với Kho bạc Nhà nước khu vực V).
- Về án phí: Bị cáo Đặng Đình G phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Báo bị cáo Đặng Đình G có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- - Toà phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội;
- - VKSND tỉnh Ninh Bình;
- - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Ninh Bình;
- - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Ninh Bình;
- - Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình;
- - Phòng HSNV Công an tỉnh Ninh Bình;
- - Trại tạm giam số 02 - Công an tỉnh Ninh Bình;
- - Bị cáo;
- - Bộ phận HCTР;
- - Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Mai Thị Minh Hồng
Bản án số 117/2025/HS-ST ngày 15/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH về mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 117/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Đình Gân - Mua bán trái phép chất ma tuý
