TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
Bản án số:117/2025/HS-ST
Ngày 09/6/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Mạnh Thắng
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Bà Hoàng Thị Hồng - Cán bộ nghỉ hưu.
- - Bà Nguyễn Thị Biên – Giáo viên nghỉ hưu.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Mạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 109/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2025/HSST-QĐ ngày 30/5/2025, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Quốc Minh H, sinh ngày 11/4/2006; Nơi đăng ký HKTT: Thôn H, xã A, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Nơi cư trú: Xóm B, xã T, huyện N, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Con ông Nguyễn Quốc D, sinh năm 1982 và bà Thân Thị H1, sinh năm 1986; gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2024/HSST ngày 01/4/2024 của Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời điểm phạm tội dưới 18 tuổi.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/01/2025, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.
2. Hoàng Ngọc K, sinh ngày 05/9/2005; Nơi đăng ký HKTT và nơi cư trú: Thôn N, xã M, huyện N, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Con ông Hoàng Văn M, sinh năm 1978 và bà Triệu Thị L, sinh năm 1984; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2024/HSST ngày 01/4/2024 của Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời điểm phạm tội dưới 18 tuổi.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/02/2025, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.
3. Nguyễn Quốc H2, sinh ngày 11/9/2008; Nơi đăng ký HKTT và nơi cư trú: Thôn T, xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Con ông Nguyễn Quốc D, sinh năm 1982 và bà Thân Thị H1, sinh năm 1986; gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ hai; Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B khởi tố, bắt tạm giam từ ngày 28/3/2025 về hành vi “Trộm cắp tài sản”, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.
(Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa)
* Bị hại: Anh Phùng Hà M1, sinh năm 2006.
Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
(Vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1990.
- Chị Phùng Thị Lệ G, sinh năm 1992.
- Chị Thân Thị H1, sinh năm 1986.
- Anh Nguyễn Đức H3, sinh năm 2006.
Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Nơi cư trú: Chung cư H, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
Nơi cư trú: Xóm T, xã V, huyện N, tỉnh Cao Bằng.
(Chị H1 có mặt, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khác đều vắng mặt)
* Đại diện hợp pháp cho bị cáo H2:
- - Bà Thân Thị H1, sinh năm 1986.
- - Ông Nguyễn Khắc Q, sinh năm 1991- Bí thư Đoàn Thanh niên công sản Hồ Chí Minh xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
Nơi cư trú: Chung cư H, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (Có mặt).
(Vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt)
* Người bào chữa cho bị cáo Hội:
- + Luật sư Lê Đức T1 – Văn phòng L1 – Đoàn luật sư tỉnh B (Có mặt).
- + Bà Giáp Thị H4 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B.
Địa chỉ: Số B, đường L, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Số F, đường L, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Quốc Minh H, sinh năm 2006, trú tại thôn H, xã A, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Nguyễn Quốc H2, sinh ngày 11/9/2008, trú tại thôn T, xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang là hai anh em ruột. Do bố mẹ ly hôn nên Hội ở cùng mẹ đẻ là Thân Thị H1 ở chung cư H, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. H và H2 có quen biết Hoàng Ngọc K, sinh năm 2005, trú tại thôn N, xã M, huyện N, tỉnh Cao Bằng.
Ngày 15/01/2025, K đi đến thành phố B chơi cùng H và Hội. Buổi sáng ngày hôm sau, H và K rủ nhau đi đến chơi với Nguyễn Đức H3, sinh ngày 06/9/2006, trú tại xóm T, xã V, huyện N, tỉnh Cao Bằng (hiện thuê trọ tại nhà chị Phùng Thị Lệ G, sinh năm 1992 ở tổ dân phố C, phường N, thành phố B). Sau khi đến phường N, thành phố B thì H và K cùng nhau đi chơi game. Trong lúc chơi game, H nhắn tin cho Nguyễn Quốc H2 rủ đến cùng chơi game thì Hội đồng ý. Buổi tối cùng ngày, H2 thuê xe taxi đi từ thành phố B đến gặp H và K rồi cùng chơi game tại đây.
Buổi tối ngày 18/01/2025, H, H2, K cùng nhau đi ăn tối. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày sau khi ăn xong, K gọi điện thoại rủ H3 đi chơi game thì H3 đồng ý. Sau đó, H, H2, K cùng đến quán Internet Thái Hoàng G1 của anh Hoàng Văn T, sinh năm 1990 ở tổ dân phố N, phường N, thành phố B. Khi đi đến cột điện ở gần cửa quán game, H nói với K và Hội: “Bây giờ 2 chúng mày và tao đến quán game đá tạm con xe lấy tiền, chỉ cần sờ thấy nấc ở ổ khoá gạt xuống sau đó cắm thêm sợi dây đồng vào là được”. K và H2 hiểu ý của H là rủ đi trộm cắp xe máy tại quán game thì đồng ý. Ba người cùng nhau đi vào game của anh T. Lúc này, H3 đi đến quán game của anh T nhưng không có tiền chơi game nên đi về phòng trọ ngủ. Hội nhìn vào khu vực để xe thấy có chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A, biển số 98AG-061.43 màu sơn xanh tím dựng bên cạnh nhiều xe mô tô khác nên nảy sinh ý định trộm cắp. Chiếc xe này là của anh Phùng Hà M1, sinh năm 2006, trú tại tổ dân phố T, phường N, thành phố B đang chơi game ở trong quán để ở đó (xe có số máy JA70E0601484, số khung RLHJA3934RY214567, đăng ký mang tên anh Phùng Hà M1 do Công an huyện Y, tỉnh Bắc Giang cấp ngày 19/10/2024). Quan sát thấy không có người trông coi, H2 đi đến ngồi lên yên chiếc xe mô tô Honda Wave, biển số 98AG-061.43. Thời điểm này, H và K đứng bên cạnh Hội rồi đi về phía trong nhà để quan sát, cảnh giới. Sau đó, H và K đi vào bên trong nhà chơi game còn H2 ở lại nhà để xe. Hội dùng tay phải giật đứt dây điện ở đầu xe mô tô rồi sử dụng điện thoại di động của K bấm đèn pin soi đấu nối các sợi dây điện với nhau nhưng không đấu nối được. Trong lúc Hội đấu nối dây điện thì K và H ngồi bên trong chơi game
và cảnh giới. Hội không đấu nối được nên đi vào bảo K ra hỗ trợ. K nói với H2 “không đấu được thì dắt”. Hội đi ra tiếp tục đấu nối các sợi dây điện nhưng vẫn không nổ máy được nên ngồi lên yên xe, dùng hai chân đẩy lùi xe ra ngoài đường rồi xuống xe dắt bộ. K đi từ trong quán ra hỗ trợ đẩy xe. Hai người đẩy xe đi được khoảng 100m thì cất giấu xe rồi quay lại quán game nhưng không thấy H ở quán nữa. Hội và K1 đẩy xe đi về khu nhà H3 thuê trọ cách đó khoảng 02km. Đối với H sau khi biết H2 và K đã trộm cắp được xe mô tô thì đi từ quán game về khu nhà trọ. Hội và K đi về nhà trọ của H3 thì gặp H đang đứng ở cổng. Hội bảo H dắt xe vào sân nhà trọ. Lúc này, H3 đang ngủ trong phòng. H đi vào phòng trọ của H3 lấy 01 chiếc tô vít rồi tháo nắp mặt nạ của xe mô tô. Hội hỏi chị Phùng Thị Lệ G là chủ nhà trọ cho mượn con dao nhưng không nói lý do thì được chị G chỉ cho biết dao để trong bếp. Hội đi vào trong bếp lấy 01 con dao rồi cầm ra đưa cho H sử dụng cắt các sợi dây có trong mặt nạ xe mô tô và đấu nối điện. Trong lúc Hiệp đấu nối dây điện thì K lấy đèn pin điện thoại soi cho Hiệp đấu N thành công và khởi động thì nổ được máy. H điều khiển xe chở H2 và K đi ra ngoài khoảng 100m thì dừng lại, tháo biển số xe vứt xuống mương nước ven đường. H tiếp tục điều khiển xe chở H2 và K đi về nhà mẹ đẻ là bà Thân Thị H1 ở thành phố B lấy quần áo và đồ dùng cá nhân. Sau khi lấy quần áo xong, H2 điều khiển xe mô tô chở K và H đến thành phố Hà Nội để trốn và tìm địa điểm tiêu thụ xe. Khi H2 điều khiển xe mô tô chở K và H đi đến thị trấn Y, huyện G thì bị Tổ công tác Phòng cảnh sát giao thông Công an thành phố H dừng xe kiểm tra phát hiện xe không có biển kiểm soát, không có giấy tờ nên đã tạm giữ chiếc xe trên.
Đối với anh Phùng Hà M1 sau khi phát hiện bị trộm cắp xe mô tô đã kiểm tra camera tại quán game thì phát hiện có hình ảnh đối tượng trộm cắp xe nên có đơn trình báo. Ngày 19/01/2025, H đầu thú. Ngày 05/02/2025, K đầu thú khai nhận hành vi phạm tội giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max; kiểm tra điện thoại không phát hiện vi phạm pháp luật.
Kết luận định giá tài sản số 345/KL-HĐ ngày 20/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận:
01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A, biển số 98AG-061.43, màu sơn xanh, số máy: JA70E0601484, số khung: RLHJA3934RY214567, mua mới tháng 10/2024, đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm ngày 18/01/2025 là 17.000.000 đồng.
Cơ quan điều tra thu giữ 03 file video do anh Hoàng Văn T giao nộp có ghi lại hình ảnh các đối tượng trộm cắp xe máy; chị Phùng Thị Lệ G giao nộp 02 file video trích xuất tại camera khu nhà trọ và 01 con dao mà Hội mượn để cắt dây điện của xe mô tô vào ngày 18/01/2025.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định các file video đã thu giữ. Kết luận giám định số 362/KL-KTHS ngày 25/02/2025 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận:
- Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 04 (bốn) file video lưu trữ trong đĩa DVD-R gửi giám định.
- Không xác định được nội dung hình ảnh trong file video có tên "6323651470315.mp4" gửi giám định có bị cắt ghép, chỉnh sửa hay không, do thời lượng video gửi giám định không phù hợp với thời lượng thực tế.
- Trích xuất được 18 (mười tám) hình ảnh liên quan đến vụ việc có trong các file video gửi giám định.
Ngày 18/3/2025, Phòng CSGT Công an thành phố H đã bàn giao cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A màu sơn xanh, không gắn biển số; có số máy JA70E06 01484, số khung RLHJA3934RY214567 đã tạm giữ ngày 19/01/2025.
Ngày 24/01/2025, Cơ quan điều tra đã cho H và Hội xác định hiện trường và thực nghiệm điều tra tại hiện trường. Kết quả H và Hội xác định vị trí trộm cắp xe máy tại khu vực để xe của quán internet “Hoàng Thái G2” thuộc TDP Nội, phường N, thành phố B. Hội thực hiện thuần thục động tác ngồi lên xe máy, dùng tay dứt dây điện, đấu dây điện xe mô tô và ngồi lên xe lùi xe ra khỏi quán; H thực hiện thuần thục động tác sử dụng tô vít tháo rời nắp mặt nạ xe mô tô, sử dụng dao cắt dây điện rồi đấu nối dây điện cho xe nổ máy như các bị can đã khai.
Cơ quan điều tra đã cho anh Nguyễn Đức H3 và các bị can Nguyễn Quốc Minh H, Nguyễn Quốc H2 quan sát các file video trích xuất tại quán I. Anh H3 và các bị can H, H2 đều xác định có hình ảnh Hội ngồi trên yên xe, cậy phá dây điện để đấu nối, dắt xe mô tô BKS 98AG-061.43 ra ngoài đường; hình ảnh H dùng tô vít tháo mặt nạ xe, dùng dao cắt và đấu dây điện; hình ảnh K có mặt tại vị trí để xe mô tô BKS 98AG-061.43 tại quán I nhìn về phía Hội đang ngồi lên yên xe mô tô; hình ảnh H điều khiển xe chở H2 và K ngồi sau đi từ khu trọ của gia đình chị G ra ngoài.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Phùng Hà M1 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave không có biển số. Anh M1 không yêu cầu các bị can phải bồi thường.
Đối với Nguyễn Đức H3 không tham gia và không biết H, H2 và K trộm cắp chiếc xe máy của anh M1; chị Phùng Thị Lệ G cho H2 mượn con dao nhưng không biết mục đích để sử dụng cắt, đấu nối dây điện xe mô tô đã trộm cắp nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Pro max màu xanh của bị can K và 01 con dao do chị G giao nộp được Cơ quan điều tra nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ diễn biến hành vi như nêu trên.
Tại Bản cáo trạng số 101/CT-VKS ngày 22 tháng 4 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã nêu; Bị cáo K đề nghị nhận lại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max vì không liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà H1 không có yêu cầu gì trong vụ án.
* Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo H2 nhất trí và không có ý kiến gì.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:
1. Về tội danh và hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52, khoản 2 Điều 56, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc Minh H từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2024/HSST ngày 01/4/2024 của Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Buộc bị cáo phải chịu hình phạt chung của hai bản án từ 33 tháng đến 36 tháng tù. Thời hạn tù tính thì ngày bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/01/2025.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 2 Điều 56, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc K từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2024/HSST ngày 01/4/2024 của Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Buộc bị cáo phải chịu hình phạt chung của hai bản án từ 30 tháng đên 33 tháng tù. Thời hạn tù tính thì ngày bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/02/2025.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự, Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H2 từ 07 tháng đến 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.
2. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 con dao chuôi làm bằng gỗ, dài 10cm, thân dao làm bằng kim loại, dài 20cm, có một đầu nhọn, bản rộng nhất 5cm, đã qua sử dụng.
- - Trả lại bị cáo K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max vỏ màu xanh.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Quốc Minh H và Nguyễn Quốc H2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Ngọc K.
* Luật sư T1 tranh luận: Nhất trí với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, các vấn đề về vật chứng; tuy nhiên, bị cáo H2 do tuổi trẻ, nhận thức pháp luật hạn chế, chưa phạm tội lần nào, thành khẩn khai báo, nên đề nghị áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự, cho bị cáo hưởng án treo.
* Trợ gúp viên pháp lý tranh luận: Nhất trí với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, các vấn đề về vật chứng. tuy nhiên, bị cáo H2 vai trò thứ yếu, phạm tội lần đầu, ít nghiêm trọng; đề nghị áp dụng điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Điều 119, 179 của Luật tư pháp người chưa thành niên, xử bị cáo mức án từ 05 tháng đến 07 tháng tù.
* Bà H không có ý kiến gì tranh luận, đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
* Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát, các bị cáo xin được hưởng mức án nhẹ nhất.
* Đại diện Viện kiểm sát đối đáp: Bị cáo Hội sau khi thực hiện hành vi phạm tội, được cho tại ngoại nhưng lại thực hiện hành vi phạm tội khác ở Bắc Ninh và bị khởi tố, tạm giam tại Bắc Ninh. Do đó, không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt từ 07 tháng đến 09 tháng tù là phù hợp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị hại và một số người người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt, nhưng có đầy đủ lời khai
trong hồ sơ, nên xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Về hành vi của các bị cáo theo cáo trạng truy tố: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Buổi tối ngày 18/01/2025, Nguyễn Quốc Minh H, Nguyễn Quốc H2 và Hoàng Ngọc K cùng nhau đi ăn tại tổ dân phố N, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. H rủ H2 và K trộm cắp xe máy tại quán game, hướng dẫn cách đấu nối dây điện để nổ máy. Các bị cáo đi đến quán game của anh Hoàng Văn T ở tổ dân phố N, phường N, thành phố B và chọn chiếc xe mô tô Honda Wave A, biển số 98AG-061.43 của anh Phùng Hà M1 để tại khu để xe của quán game để trộm cắp. Hội giật đứt dây điện ở đầu xe nhưng không đấu nối được nên K bảo dắt xe ra ngoài. Hội lùi xe ra ngoài đường thì K đi ra hỗ trợ đẩy xe về khu nhà trọ của chị Phùng Thị Lệ G ở tổ dân phố C, phường N. H đi từ quán game về dắt xe vào sân nhà trọ, dùng tô vít tháo nắp mặt nạ của xe, dùng dao cắt dây điện đấu nối và nổ được máy. H điều khiển xe chở K và H2 đi đến thị trấn Y, huyện G thì bị Phòng cảnh sát giao thông Công an thành phố H kiểm tra tạm giữ xe sau đó bàn giao cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B. Tài sản các bị cáo trộm cắp trị giá 17.000.000 đồng.
Hành vi nêu trên của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố các bị cáo về tội danh theo điều luật trên là có căn cứ.
[4] Về tính chất hành vi phạm tội và vai trò của các bị cáo:
- - Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ, gây mất ổn định trật tự an ninh tại địa phương, bị dư luận và quần chúng nhân dân lên án. Do vậy, cần xử lý các bị cáo bằng pháp luật hình sự tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi để đảm bảo giáo dục các bị cáo thành công dân biết tuân thủ pháp luật.
- - Về vai trò của các bị cáo: Các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội, nhưng không có sự phân công tổ chức, không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ, nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. H là người khởi xướng, rủ rê các bị cáo khác và hướng dẫn cách thức lấy trộm xe máy, đồng thời cảnh giới cho bị cáo H2 lấy trộm xe máy nên có vai trò chính; bị cáo H2 là người trực tiếp thực hiện hành vi lấy trộm xe máy, bị cáo K giúp sức cảnh giới và hỗ trợ trực tiếp bị cáo Hội khi lấy xe máy ra ngoài quán game của anh T nên có vai trò như nhau.
[5] Xét về nhân thân các bị cáo: Bị cáo H và bị cáo K đã bị xét xử theo Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2024/HSST ngày 01/4/2024 của Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Bị cáo Hội chưa bị Tòa án xét xử và chưa bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính lần nào.
[6] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
- - Bị cáo H là người xúi giục bị cáo H2 thực hiện hành vi phạm tội khi bị cáo H2 chưa đủ 18 tuổi nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự
- Bị cáo K và bị cáo H2 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[7] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo H và bị cáo K ra đầu thú. Do đó, bị cáo H, bị cáo K được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo Hội được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi xem xét quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Đối với bị cáo H2 hiện đang bị khởi tố hình sự và tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, nên không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[8] Về hình phạt và tổng hợp hình phạt: Từ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo như nêu trên. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo H và K đều đã bị xét xử và đang chấp hành hình phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2024/HSST ngày 01/4/2024 của Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng (Bản án số 52), nên cần buộc các bị cáo chấp hành hình phạt tù có thời hạn để cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian tương ứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội, đồng thời áp dụng khoản 2 Điều 56 của Bộ luật Hình sự để tổng hợp với hình phạt của Bản án số 52. Đối với bị cáo H2, mặc dù phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng khi chưa đủ 18 tuổi, nhưng bị cáo đã bị Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B khởi tố, bắt tạm giam về hành vi “Trộm cắp tài sản” từ ngày 28/3/2025, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, nên cần buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian, tương ứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội. Tuy nhiên, cần áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự và khoản 1 Điều 119, Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên để áp dụng hình phạt đối với bị cáo H2.
[9] Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, bị cáo K là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[10] Về vật chứng của vụ án:
- - 01 con dao chuôi làm bằng gỗ, dài 10cm, thân dao làm bằng kim loại, dài 20cm, có một đầu nhọn, bản rộng nhất 5cm, đã qua sử dụng là vật chứng không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max vỏ màu xanh là của bị cáo K, không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo K.
[11] Về trách nhiệm dân sự: Trong vụ án không đương sự nào có yêu cầu bồi thường dân sự, nên không đặt ra xem xét.
[12] Đối với Nguyễn Đức H3 không tham gia và không biết H, H2 và K trộm cắp chiếc xe máy của anh M1; chị Phùng Thị Lệ G cho H2 mượn con dao nhưng không biết mục đích để sử dụng cắt, đấu nối dây điện xe mô tô đã trộm cắp, Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[13] Về án phí: Bị cáo H và bị cáo H2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo K là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên được miễn tiền án phí sơ thẩm, phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[14] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt đối với các bị cáo và các vấn đề khác trong vụ án là phù hợp, có căn cứ nên cần chấp nhận.
[14] Ngoài ra cần áp dụng quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự để tuyên quyền kháng cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52, khoản 2 Điều 56, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc Minh H 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2024/HSST ngày 01/4/2024 của Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Buộc bị cáo phải chịu hình phạt chung của hai bản án là 02 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính thì ngày bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/01/2025.
- - Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 2 Điều 56, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc K 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2024/HSST ngày 01/4/2024 của Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Buộc bị cáo phải chịu hình phạt chung của hai bản án là 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính thì ngày bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/02/2025.
- - Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 119, Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H2 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 và điểm c khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 con dao chuôi làm bằng gỗ, dài 10cm, thân dao làm bằng kim loại, dài 20cm, có một đầu nhọn, bản rộng nhất 5cm, đã qua sử dụng.
- - Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max vỏ màu xanh cho bị cáo K.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Quốc Minh H và Nguyễn Quốc H2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Ngọc K.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 292; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các bị cáo, người bào chữa bị cáo và bà H là đại diện hợp pháp của Hội có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định.
5. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA [Signature] Trần Mạnh Thắng CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN TÒA |
Bản án số 117/2025/HS-ST ngày 09/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 117/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hiệp. trộm cắp tài sản
