|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 117/2025/HS-PT Ngày 24-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khương
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thu Thủy
Bà Nguyễn Thị Cúc
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy Tiên - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Nguyệt Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2025, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử trực tuyến (điểm cầu trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại TP Hồ Chí Minh – điểm cầu trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang) phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 1114/2024/TLPT- HS ngày 06 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo bị kháng cáo Vũ Khắc D.
Do có kháng cáo của đại diện hợp pháp của người bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 115/2024/HS-ST ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXPT-HS ngày 03 tháng 02 năm 2025.
Bị cáo bị kháng cáo: Vũ Khắc D, sinh ngày 13 tháng 12 năm 1984 tại Hải Phòng; Nơi ĐKTT: Tổ E, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng; Nơi cư trú: Tổ E, ấp S, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Vũ Khắc H, sinh năm 1964 và bà Cao Thị H1, sinh năm 1965; Vợ Nguyễn Chi P, sinh năm 1985 (đã ly hôn); Con ruột có 01 người sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/10/2022 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Vũ Khắc D: Luật sư Huỳnh Anh T - thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).
- Người bị hại: Chị Nguyễn Thị N - sinh ngày 13/02/1997 (đã chết).
- Đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1972 và bà Hà Thị H3, sinh năm 1973. Cùng cư trú: Phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).
- Người đại diện theo ủy quyền của ông H2, bà H3 và là người bảo vệ quyền lợi cho ông H2, bà H3: ông Hà Công N1, sinh năm 1985 (theo văn bản ủy quyền số chứng thực 530/2022). Cư trú tại: Tổ C, khu phố D, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào cuối năm 2017, Vũ Khắc D cùng chị Nguyễn Thị N bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng ở nhiều nơi khác nhau, đến ngày 10/9/2022 D và chị N thuê căn nhà của Vũ Văn T1 tại ấp S, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang để ở và đi làm thuê. Ngày 02/10/2022, sau khi uống rượu xong và cần ma túy để sử dụng nên D điều khiển xe máy chạy đến khu vực V, phường A, thành phố P. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 05/10/2022, sau khi đã sử dụng ma túy, D và chị N nói chuyện qua lại dẫn đến mâu thuẫn, cãi vã nhau nên D dùng tay, chân đánh, đá nhiều cái trúng vào mặt, người của chị N làm cho chị N té ngã xuống nền gạch. Nhưng chị N vẫn thách thức, chửi D nên D tiếp tục dùng tay, chân đánh, đá nhiều cái trúng vào người chị N nên chị N cũng dùng tay, chân đánh, đá trả lại nhiều cái trúng vào người của D rồi cả hai dừng lại. D bỏ đi ra sân nhà sau ngồi, còn chị N vẫn ở trong phòng và tiếp tục chửi D những lời thô tục nên D đi vào dùng cây chổi quét nhà cán bằng nhựa, cây sạn chiên cá bằng kim loại (là dụng cụ nấu nướng có hình thù giống cái muỗng nhưng gần như dẹp, to khoảng bàn tay) đánh nhiều cái trúng vào tay, chân và người của chị N rồi nghỉ và bỏ đi ra sân nhà sau ngồi tiếp.
Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, D đi vào nhà, nhìn thấy chị N bị ngất xỉu với tư thế chân quỳ gối xuống nền gạch, tay nắm lấy thanh cửa sổ nhà sau, đầu cúi xuống, quần, áo bị ướt liền đỡ chị N lên đưa vào phòng ngủ, dùng khăn lau và thay quần, áo cho chị N rồi lấy nệm trên giường trải trên nền gạch để cho chị N nằm. Tiếp đó, D khai là có dùng tay trái đỡ cổ của chị N lên, tay phải đổ sữa loại Nuti, có thể tích 330ml cho chị N uống dẫn đến bị sặc, làm cho dịch mũi, miệng chảy ra; D lấy khăn lau và dùng miệng của mình hút dịch trong mũi, miệng của chị N ra và tiếp tục thực hiện hành vi giống như trên, tay trái đỡ cổ của chị N lên, tay phải đổ hết phần sữa còn lại cho chị N uống rồi lấy thêm 01 chai nước lọc, có thể tích 500ml cho chị N uống hết dẫn đến bị sặc lần thứ 2, làm cho dịch mũi, miệng chảy ra, D lấy khăn lau rồi đặt chị N nằm xuống và ôm chị N ngủ. Đến khoảng 00 giờ 45 phút ngày 06/10/2022 Duy thức dậy, phát hiện chị N đã tử vong, cơ thể bị tím tái liền đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P tự thú và khai nhận toàn bộ hành vi của mình.
Quá trình điều tra thu giữ được: 01 (một) cây sạn (dụng cụ nấu ăn) bằng kim loại dài 25,4cm, cán dài 17,1cm, rộng 1,2cm, phần đầu dẹp có kích thước 9,5cm x 8,3cm; 01 (một) cây chổi dài 1m, cán chổi bằng nhựa màu đỏ dài 0,72m, phần bông cỏ có kích thước 28cm x 40cm.
Tại Bản kết luận giám định Pháp y tử thi số 981/KL-KTHS ngày 22 tháng 11 năm 2022 của Phòng K Công an tỉnh K đối với bị hại Nguyễn Thị N, sinh ngày 13/02/1997, địa chỉ phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa đã kết luận: Trên toàn thân nạn nhân có nhiều vết thương phần mềm: Xước da, sây sát da và bầm tụ máu rải rác. Hai lỗ mũi chảy dịch và bọt màu nâu đen. Miệng chảy dịch màu hồng, trong miệng có dịch màu hồng và màu nâu đen. Hai bàn tay co quắp. Hai bàn chân duỗi thẳng. Lòng khí quản có dịch bọt màu hồng và dị vật màu nâu đen. Hai phổi phù, sung huyết và xuất huyết. Cắt ngang nhu mô phổi có dịch bọt màu hồng trào ra. Cơ tim có nhiều chấm xuất huyết rải rác. Trong dạ dày có dịch màu nâu đen. Tụ máu dưới da và quanh cơ vùng cổ, tổn thương cơ tim cấp dạng tăng co, phù phổi rải rác, hoại tử gan vùng I, II, gan thoái hóa mỡ rải rác, viên mạn khoảng cửa rải rác. Trong phủ tạng, máu, nước tiểu có tìm thấy A và M. Nguyên nhân chết: Ngạt do hít dị vật vào đường thở trên người có nhiều chấn thương phần mềm và có sử dụng ma túy (A1 và M1). Các vết thương phần mềm trên người nạn nhân do vật tày gây nên.
Tại Bản kết luận giám định pháp y trên hồ sơ số 41/23/GĐHS ngày 21 tháng 9 năm 2023 của P1 tại thành phố Hồ Chí Minh đối với bị hại Nguyễn Thị N, sinh năm 1997, địa chỉ thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa đã kết luận: Vùng đầu - mặt - cổ tím tái. Bầm tụ máu da cơ vùng cổ, gốc lưỡi, nhiều dấu vết thương tích phần mềm trên cơ thể. Hai phổi phù, sung huyết và xuất huyết. Chấm chảy máu màng ngoài tim. Da, cơ ức đòn chũm và vùng cổ: Xuất huyết, tụ máu trong cơ và mô liên kết mỡ sợi. Thiếu máu cơ tim cấp, sẹo xơ cũ. Sung huyết các phủ tạng, phù phổi. Có tìm thấy A và M. Nguyên nhân tử vong của nạn nhân Nguyễn Thị N là ngạt cơ học do chèn ép vùng cổ trên người có A và M. Các thương tích sây sát da, bầm tụ máu của nạn nhân Nguyễn Thị N là do vật tày và vật tày có cạnh tác động trực tiếp gây nên.
Tại Bản kết luận giám định pháp y trên hồ sơ số 42/23/GĐHS ngày 25 tháng 9 năm 2023 của P1 tại Thành phố Hồ Chí Minh đối với bị hại Nguyễn Thị N, sinh năm 1997, địa chỉ thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa đã kết luận: Bầm tụ máu da cơ vùng cổ, gốc lưỡi, nhiều dấu vết thương tích phần mềm trên cơ thể. Da, cơ ức đòn chũm và vùng cổ: Xuất huyết, tụ máu trong cơ và mô liên kết mỡ sợi. Nguyên nhân tử vong của nạn nhân Nguyễn Thị N là ngạt cơ học do chèn ép vùng cổ trên người có A và M. Các tổn thương sây sát, xuất huyết, bầm tụ máu: Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/08/2019 của Bộ Y không quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.
Tại Văn bản số 136/PVPYQG-KGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2024 của P1 tại thành phố Hồ Chí Minh về việc phúc đáp công văn số 1031/CSHS có ý kiến trả lời như sau: Bản kết luận giám định Pháp y tử thi số 981/KL-KTHS ngày 22 tháng 11 năm 2022 của Phòng K Công an tỉnh K kết luận, nguyên nhân tử vong của bị hại Nguyễn Thị N là ngạt do hít dị vật vào đường thở, trên người có chấn thương phần mềm và có sử dụng ma túy (A1 và M1): ngạt đường thở do tắc nghẽn từ bên trong. Bản kết luận giám định pháp y trên hồ sơ số 41/23/GĐHS ngày 21 tháng 9 năm 2023 của P1 tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận nguyên nhân tử vong của nạn nhân Nguyễn Thị N là ngạt cơ học do chèn ép vùng cổ trên người có A và M: ngạt khí phế quản do bị chèn ép từ bên ngoài (đã được mô tả kỹ tại Bản kết luận số 41/23/GĐHS).
Bản án hình sự sơ thẩm số: 115/2024/HS-ST ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang, đã tuyên xử:
Căn cứ vào: điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tuyên bố bị cáo Vũ Khắc D phạm tội “Giết người”. Xử phạt bị cáo Vũ Khắc D 13 (mười ba) năm tù, thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 06 tháng 10 năm 2022.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 18/10/2024, Đại diện hợp pháp của bị hại là ông Nguyễn Văn H2, bà Hà Thị H3 kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo;
Ngày 18/10/2024, ông Hà Công N1 là người được Đại diện hợp pháp của bị hại là ông Nguyễn Văn H2, bà Hà Thị H3 ủy quyền có kháng cáo đề nghị tăng hình phạt và tăng mức bồi thường dân sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông Hà Công N1 xin rút kháng cáo của ông đã kháng cáo. Còn kháng cáo của ông H2 và bà H3 thì ông N1 giữ nguyên.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét hết các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và xử phạt bị cáo 13 năm tù về tội giết người là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo tăng hình phạt của gia đình bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Luật sư bào chữa cho bị cáo: Ngay sau khi biết bị hại chết, bị cáo đã tự động đến cơ quan công an để trình báo toàn bộ hành vi phạm tội, lúc này chưa ai biết tội phạm đã xảy ra nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Tự Thú” theo điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Đầu thú” theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là bất lợi cho bị cáo. Tuy nhiên mức hình phạt 13 năm tù đối với bị cáo là phù hợp nên luật sư đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo tăng hình phạt của gia đình bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho gia đình người bị hại: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đến cùng nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết tăng nặng “Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng” theo điểm e khoản 2 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 13 năm tù là nhẹ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của gia đình bị hại, tăng hình phạt đối với bị cáo là tù chung thân.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
* Về tố tụng:
- Ngày 20/9/2024 Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang tuyên án sơ thẩm, nhưng người đại diện hợp pháp của bị hại là ông Nguyễn Văn H2, bà Hà Thị H3 và ông Hà Công N1 là người được được ông H2 và bà H3 ủy quyền đều vắng mặt, đến ngày 21/10/2024 Tòa án cấp sơ thẩm mới giao bản án sơ thẩm cho đại diện gia đình bị hại.
- Ngày 18/10/2024, ông Nguyễn Văn H2, bà Hà Thị H3 kháng cáo tăng nặng hình phạt, là trong hạn, hợp lệ nên được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
- Ngày 18/10/2024, ông Hà Công N1 kháng cáo tăng nặng hình phạt và tăng mức bồi thường dân sự. Nhưng tại phiên tòa phúc thẩm ông N1 đã rút toàn bộ kháng cáo này, nên đình chỉ xét xử phúc thẩm.
* Về nội dung:
- Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Vũ Khắc D thừa nhận đã đánh đập làm bị hại Nguyễn Thị N tử vong như bản án sơ thẩm đã kết luận.
- Xét lời thừa nhận của bị cáo là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Biên bản ghi nhận bị cáo ra tự thú, Kết luận giám định pháp y tử thi của nạn nhân. Như vậy, bị cáo Vũ Khắc D đã có hành vi dùng tay, chân, sạn chiên cá bằng kim loại (dụng cụ nấu nướng có hình thù giống cái muỗng nhưng gần như dẹp, to khoảng bàn tay), cán chổi nhựa đánh bị hại Nguyễn Thị N tử vong, hành vi này của bị cáo là rất nghiêm trọng đã phạm vào tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
- Xét chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống, bị cáo đã dùng tay, chân, hung khí đánh chết người bị hại, thể hiện bị cáo là người côn đồ, xem thường tính mạng của người khác và coi thường pháp luật nên cần thiết áp dụng hình phạt nghiêm minh mới có tác dụng giáo dụng cải tạo đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
- Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự thú; nhân thân tốt. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Tuy nhiên, ngay sau khi phát hiện bị hại chết, bị cáo đã đến ngay cơ quan công an để trình báo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lúc này chưa ai phát hiện ra hành vi phạm tội của bị cáo, đây là tình tiết giảm nhẹ “Tự thú” theo quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chỉ áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Đầu thú” theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là có thiếu sót.
- Xét tính chất của hành vi và hậu quả bị cáo gây ra cho xã hội là đặc biệt nghiêm trọng, bị cáo chỉ có 02 tình tiết giảm nhẹ là điểm s, r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, chưa bồi thường khắc phục hậu quả được khoản tiền nào cho gia đình người bị hại, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 13 năm tù là có phần nhẹ, chưa tương xứng với tính chất của hành vi và hậu quả bị cáo gây ra cho xã hội. Do đó, cần chấp nhận kháng cáo đề nghị tăng hình phạt của người đại diện của bị hại.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo tăng hình phạt của gia đình bị hại, giữ nguyên mức hình phạt như bản án sơ thẩm là không có căn cứ chấp nhận.
- Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ “Tự Thú” theo điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo trong phần quyết định của bản án là có căn cứ, nhưng đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của gia đình bị hại tăng hình phạt đối với bị cáo là không có căn cứ chấp nhận.
- Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho gia đình người bị hại đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng “Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng” theo điểm e khoản 2 Điều 52 của Bộ luật Hình sự và không áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là không có căn cứ. Tuy nhiên, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho gia đình người bị hại đề nghị tăng mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ chấp nhận.
- Án phí hình sự phúc thẩm: Người đại diện hợp pháp của bị hại không phải chịu.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 điểm a khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn H2, bà Hà Thị H3 là người đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị tăng nặng hình phạt đối với bị cáo Vũ Khắc D.
- Tuyên bố bị cáo Vũ Khắc D phạm tội “Giết người”.
- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s, r khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Vũ Khắc D 15 (mười lăm) năm tù, thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 06 tháng 10 năm 2022.
- Án phí hình sự phúc thẩm: Người đại diện hợp pháp của bị hại không phải chịu.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Khương |
Bản án số 117/2025/HS-PT ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (giết người)
- Số bản án: 117/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Giết người)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Vũ Khắc D phạm tội "Giết người" theo điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS 2015.
