Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 117/2025/HS-PT

Ngày: 06 - 11 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Trường Sơn

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Kim Trường

Bà Trần Thanh Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thuý Hằng - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thảo Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ (Cơ sở C) xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 96/2025/TLPT-HS ngày 01 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Trần Thị T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2025/HS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ.

Bị cáo có kháng cáo:

TRẦN THỊ T, sinh ngày 29/5/1979 tại huyện B, tỉnh Hà Nam (nay là xã B, tỉnh Ninh Bình). Nơi cư trú: Khu T, thị trấn M, huyện T, tỉnh Hòa Bình ( nay là khu T, xã T, tỉnh Phú Thọ); Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trần Văn B và bà Lương Thị S; bị cáo có chồng là Hoàng Văn Q; có 02 con, lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2019.

Tiền sự: Không.

Tiền án: Tại Bản án sơ thẩm số 08/2018/HS-ST ngày 06/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện Tân Lạc xử phạt Trần Thị T 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Giữ người trái pháp luật” (Bị cáo chưa được xoá án tích).

Nhân thân: Ngày 09/4/2018, Trần Thị T bị Công an huyện T, tỉnh Hòa Bình ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 39/QĐ-XPHC với số tiền 5.000.000đ về hành vi cho vay tiền có cầm cố tài sản nhưng lãi suất vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng N công bố tại thời điểm cho vay.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2024 đến ngày 21/01/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh; đến ngày 25/4/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra trong vụ án còn có những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Để có tiền chi tiêu cá nhân, Trần Thị T đã cho nhiều người vay tiền với lãi suất cao. Để tránh bị cơ quan chức năng phát hiện và xử lý, khi cho vay T yêu cầu người vay tiền viết giấy bán xe, hợp đồng thuê xe, giấy vay tiền tương ứng với số tiền mà người đó vay với lãi suất từ 5.000đ đến 10.000đ/1triệu/1 ngày; việc thoả thuận lãi suất giữa T với người vay tiền không được thể hiện bằng văn bản mà chỉ thoả thuận bằng lời nói; người vay phải trả đủ số tiền lãi của số ngày vay theo vòng, một vòng lãi tùy theo thỏa thuận; khách trả lãi trực tiếp cho Trần Thị T bằng tiền mặt hoặc chuyển tiền qua tài khoản của T số: 4444479733333 mở tại ngân hàng Q1 và số tài khoản 343691999 mở tại ngân hàng V1.

Từ ngày 18/02/2022 đến 18/8/2024, Trần Thị T đã cho anh Bùi Văn H và chị Bùi Thị T1 vay với tổng số tiền gốc là: 225.000.000 đồng; tổng số tiền lãi Trần Thị T thu được là: 349.170.000 đồng, trong đó: Tổng số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 là: 23.895.890 đồng; tổng số tiền Trần Thị T thu lợi bất chính là 325.274.110 đồng. Cụ thể:

1. Cho anh Bùi Văn H, địa chỉ: xóm Đ, xã T, tỉnh Phú Thọ vay tiền 07 lần, cụ thể:

Lần thứ nhất: Ngày 30/12/2022, Trần Thị T cho anh H vay số tiền 25.000.000 đồng, lãi suất là 10.000đ/1 triệu/1 ngày, trả lãi theo vòng 10 ngày một lần với số tiền là 2.500.000 đồng. T yêu cầu anh H viết giấy vay tiền và giữ lại 01 đăng ký xe mô tô, sau đó đưa cho anh H số tiền 22.500.000 đồng (trong đó 12.500.000 đồng là tiền mặt, còn 10.000.000 đồng là chuyển khoản), T tự cắt lại số tiền 2.500.000 đồng tương ứng vòng lãi đầu tiên anh H phải trả. Khoản vay này đã tất toán.

Từ ngày 30/12/2022 đến 26/4/2023 (118 ngày) tổng số tiền lãi anh H đã trả cho Trần Thị T là 29.500.000 đồng, tương đương với mức lãi suất 365,0%/năm. Mức lãi suất cho vay trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là: 365,0% : 20% = 18,25 lần.

Số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 (tương ứng với thời gian trả lãi trên) là: 25.000.000₫ x 20%/365 x 118 ngày = 1.616.438 đồng.

Số tiền Trần Thị T đã thu lợi bất chính là: 29.500.000 đồng – 1.616.438 đồng = 27.883.562 đồng.

Lần thứ hai: Ngày 16/3/2023, Trần Thị T cho anh H vay số tiền 25.000.000 đồng, lãi suất 10.000đ/1 triệu/1 ngày, trả lãi theo vòng 10 ngày một lần với số tiền là 2.500.000 đồng, T đưa tiền mặt cho anh H. Khoản vay này đã tất toán.

Từ ngày 16/3/2023 đến 20/3/2023 (5 ngày) tổng số tiền lãi anh H đã trả cho Trần Thị T là 1.300.000 đồng, tương đương với mức lãi suất 379,6%/năm. Mức lãi suất cho vay trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là: 379,6% : 20% = 18,98 lần.

Số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 (tương ứng với thời gian trả lãi trên) là: 25.000.000đồng x 20%/365 x 5 ngày = 68.493 đồng.

Số tiền Trần Thị T đã thu lợi bất chính là: 1.300.000 đồng - 68.493 đồng = 1.231.507 đồng.

Lần thứ ba: Ngày 06/4/2023, Trần Thị T cho anh H vay số tiền 25.000.000 đồng, lãi suất 10.000đ/1 triệu/1 ngày, trả lãi theo vòng 10 ngày một lần với số tiền là 2.500.000 đồng. T yêu cầu anh H viết giấy vay tiền và giữ lại 01 đăng ký xe mô tô. Sau đó,T chuyển khoản cho anh H số tiền 20.000.000 đồng, trong đó T cắt lại số tiền 2.500.000 đồng tương ứnganh H trả vòng lãi đầu tiên 2.500.000 đồngThuỷ thu tiền lãi của anh H đối với khoản thứ nhất. Khoản vay này anh H chưa trả tiền gốc.

Từ ngày 06/4/2023 đến 26/02/2024 (327 ngày), tổng số tiền lãi anh H đã trả cho Trần Thị T là 81.750.000 đồng, tương đương với mức lãi suất 365,0%/năm. Mức lãi suất cho vay trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là 365,0% : 20% = 18,25 lần.

Số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 (tương ứng với thời gian trả lãi trên) là: 25.000.000 đồng x 20%/365 x 327 ngày = 4.479.452đồng.

Số tiền Trần Thị T đã thu lợi bất chính là: 81.750.000 đồng - 4.479.452 đồng = 77.270.548 đồng.

Lần thứ tư: Ngày 21/7/2023, Trần Thị T cho anh H vay số tiền 20.000.000 đồng, lãi suất là 8.000đ/1 triệu/1 ngày, trả lãi theo vòng 10 ngày một lần với số tiền 1.600.000 đồng. T giữ lại của anh H 01 đăng ký xe mô tô. Sau đó T đưa cho anh H số tiền 18.400.000 đồng, cắt lại số tiền 1.600.000 đồng tương ứng việc anh H trả vòng lãi đầu tiên. Khoản vay này anh H chưa trả tiền gốc.

Từ ngày 21/7/2023 đến 26/02/2024 (221 ngày), tổng số tiền lãi anh H đã trả cho Trần Thị T là 35.360.000 đồng, tương đương với mức lãi suất 292,0%/năm. Mức lãi suất cho vay trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là: 292,0% : 20% = 14,6 lần.

Số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 (tương ứng với thời gian trả lãi trên) là: 20.000.000 x 20%/365 x 221 ngày = 2.421.918 đồng.

Số tiền Trần Thị T đã thu lợi bất chính là: 35.360.000 đồng - 2.421.918 đồng = 32.938.082 đồng.

Lần thứ năm: Ngày 28/8/2023, Trần Thị T cho anh H vay số tiền 50.000.000 đồng, với mức lãi suất là 10.000đ/1 triệu/1 ngày, trả lãi theo vòng 10 ngày một lần với số tiền 5.000.000đ. T yêu cầu anh H viết giấy vay tiền và giữ lại 01 đăng ký xe ô tô BKS 99A – 153.92 mang tên Ngô Văn V, trú tại: L, Việt Đ,T, Bắc Ninh. Sau đó,T chuyển khoản cho anh H số tiền 42.000.000 đồng và đưa cho anh H 3.000.000 đồng tiền mặt, T cắt lại số tiền 5.000.000 đồng tương ứng anh H trả vòng lãi đầu tiên. Khoản vay này anh H đã trả tiền gốc.

Từ ngày 28/8/2023 đến 11/9/2023 (15 ngày), tổng số tiền lãi anh H đã trả cho Trần Thị T là 5.000.000 đồng, tương đương với mức lãi suất 243,3%/năm.

Mức lãi suất cho vay trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là: 243,3% : 20% = 12,165 lần.

Số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 (tương ứng với thời gian trả lãi trên) là: 50.000.000 x 20%/365 x 15 ngày = 410.959 đồng.

Số tiền Trần Thị T đã thu lợi bất chính là: 5.000.000 đồng - 410.959 đồng = 4.589.041 đồng.

Lần thứ sáu: Ngày 12/9/2023, Trần Thị T cho anh H vay số tiền 30.000.000 đồng, với mức lãi suất là 7.000đ/1 triệu/1 ngày, trả lãi theo vòng 10 ngày một lần với số tiền 2.100.000đ. T giữ lại 01 đăng ký xe mô tô mang tên Bùi Văn L, sinh năm 1993, trú tại: Xóm Đ, xã G, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Sau đó,T chuyển khoản cho anh H số tiền 23.500.000 đồng, đưa tiền mặt cho anh H số tiền 4.400.000 đồng và cắt lại số tiền 2.100.000 đồng tương ứng anh H trả vòng lãi đầu tiên. Khoản vay này anh H chưa trả tiền gốc.

Từ ngày 12/9/2023 đến 26/02/2024 (168 ngày), tổng số tiền lãi anh H đã trả cho Trần Thị T là 35.280.000 đồng, tương đương với mức lãi suất 255,5%/năm. Mức lãi suất cho vay trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là: 255,5% : 20% = 12,775 lần.

Số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 (tương ứng với thời gian trả lãi trên) là: 30.000.000đ x 20%/365 x 168 ngày = 2.761.644 đồng.

Số tiền Trần Thị T đã thu lợi bất chính là: 35.280.000 đồng - 2.761.644 đồng = 32.518.356 đồng.

Lần thứ bảy: Ngày 27/02/2024, Trần Thị T và anh H thống nhất gộp khoản vay lần thứ 3 + khoản vay lần thứ 4 + khoản vay lần thứ 6 thành khoản vay 75.000.000 đồng, với mức lãi suất là 1.000.000 đồng/ngày. Khoản vay này anh H chưa trả tiền gốc.

Do thấy anh H có hoàn cảnh khó khăn nên Trần Thị T thống nhất với anh H tính lãi số tiền vay từ ngày 27/02/2024 đến 18/8/2024; từ ngày 19/8/2024 trở đi, Trần Thị T không thu tiền lãi nữa mà chỉ yêu cầu anh H thu xếp trả tiền gốc.

Vì vậy, từ ngày 27/02/2024 đến ngày 18/8/2024 (174 ngày), tổng số tiền lãi anh H đã trả cho Trần Thị T là 115.480.000 đồng, tương đương với mức lãi suất 323,0%/năm. Mức lãi suất cho vay trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015là: 323,0% : 20% = 16,15 lần.

Số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 (tương ứng với thời gian trả lãi trên) là: 75.000.000₫ x 20%/365 x 174 ngày = 7.150.685 đồng.

Số tiền Trần Thị T đã thu lợi bất chính là: 115.480.000 đồng - 7.150.685 đồng = 108.329.315 đồng.

Tổng 07 lần, Trần Thị T đã thu lợi bất chính của anh Bùi Văn H số tiền 251.056.301 đồng.

2. Ngày 18/02/2022, Trần Thị T cho chị Bùi Thị T1, sinh năm 1982, trú tại: xóm N, xã N, huyện C, tỉnh Hòa Bình, nay là xóm N, xã M, tỉnh Phú Thọ vay số tiền 50.000.000 đồng, với mức lãi suất là 5.000đ/1 triệu/1 ngày, trả lãi theo vòng 10 ngày một lần với số tiền 2.500.000đ. Trần Thị T yêu cầu chị T viết giấy vay tiền, giấy bán xe mô tô và giữ lại 01 đăng ký xe mô tô biển kiểm soát: 28E1-200.42 mang tên Bùi Thị T1 và 01 (một) chứng minh thư nhân dân mang tên Bùi Thị T1. Sau đó Trần Thị T đưa chị T 50.000.000 đồng tiền mặt. Chị T đã trả tiền gốc khoản vay này.

Từ ngày 18/02/2022 đến ngày 18/8/2022 (182 ngày), tổng số tiền lãi chị Bùi Thị T1 đã trả cho Trần Thị T là 45.500.000 đồng, tương đương với mức lãi suất 182,5%/năm. Mức lãi suất cho vay trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là: 182,5% : 20% = 9,125 lần.

Số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 (tương ứng với thời gian trả lãi trên) là 50.000.000₫ x 20%/365 x 182 ngày = 4.986.301 đồng.

Số tiền Trần Thị T đã thu lợi bất chính của chị Bùi Thị T1 là: 45.500.000 đồng - 4.986.301 đồng = 40.513.699 đồng.

Ngày 14/12/2024 và ngày 25/12/2024, anh H và chị T1 đã làm đơn tố giác tới Công an huyện T, tỉnh Hòa Bình về hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của Trần Thị T.

Bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2025/HS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Trần Thị T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Căn cứ vào khoản 2, 3 Điều 201; điểm g, h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thị T 12 tháng tù.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 27/8/2025 bị cáo Trần Thị T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo rút yêu cầu xin được hưởng án treo, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Thị T. Xử phạt bị cáo T 07 (bảy) tháng tù về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng:

- Về hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, Cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

- Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Toà án cấp sơ thẩm tuyên án, bị cáo có đơn kháng cáo bản án. Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, kháng cáo trong hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

[2.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, cụ thể: Từ ngày 18/02/2022 đến 18/8/2024, Trần Thị T đã 08 lần cho anh Bùi Văn H và chị Bùi Thị T1 vay với tổng số tiền gốc là: 225.000.000đ, mức lãi suất thấp nhất là 182,5%/năm (vượt quá 9,125 lần mức lãi suất cao nhất Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định), mức lãi suất cao nhất là 379,6%/năm (vượt quá 18,98 lần mức lãi suất cao nhất Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định). Trong đó, có 05 lần cho vay với tổng số tiền gốc 125.000.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính mỗi lần trên 30.000.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 291.570.000 đồng.

Đối với 03 lần bị cáo đã cho anh Bùi Văn H vay với tổng số tiền gốc 100.000.000 đồng trong các ngày 30/12/2022; ngày 16/3/2023 và ngày 28/8/2023, số tiền thu lợi bất chính mỗi lần dưới 30.000.000 đồng. Do đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã ra Quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là đúng với quy định tại khoản 3 Điều 7 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật Hình sự.

Tòa án nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ đã xét xử bị cáo Trần Thị T về “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[2.2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.

Hội đồng xét xử xét thấy trong vụ án này, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý tín dụng của Nhà nước và quyền lợi hợp pháp của người đi vay. Vì động cơ vụ lợi, bị cáo đã nhiều lần cho vay với lãi suất cao gấp nhiều lần mức quy định của Bộ luật Dân sự nhằm thu lợi bất chính. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá toàn diện tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo T 12 tháng tù là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Tuy nhiên tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo đã cung cấp thêm các tài liệu chứng cứ mới thể hiện bị cáo là người được giao trực tiếp thờ cúng đối với Liệt sĩ Lương Nhân C và được nhận mọi chế độ ưu đãi liên quan đến liệt sĩ. Bị cáo có chú ruột của chồng là Liệt sĩ Hoàng Văn D. Ngoài ra bị cáo đã tích cực khắc phục trả cho chị Trần Thị T số tiền đã thu lời bất chính (30 triệu đồng) và ngày 28/10/2025 chị T đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo T có hoàn cảnh rất khó khăn, vợ chồng đã ly thân, một mình bị cáo phải nuôi con khuyết tật nặng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, do đó Hội đồng xét xử có căn cứ để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[3] Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định tại Điều 343 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[4] Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị T. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2025/HS-ST ngày 15/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ về hình phạt đối với bị cáo Trần Thị T cụ thể:

Tuyên bố bị cáo Trần Thị T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Căn cứ khoản 2, 3 Điều 201; điểm g, h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Thị T 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án, được trừ số ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2024 đến ngày 21/01/2025.

2. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Về án phí: Bị cáo Trần Thị T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 06/11/2025).

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND khu vực 15 - Phú Thọ;
  • - TAND khu vực 15 - Phú Thọ;
  • - Phòng THADS KV 15 - Phú Thọ;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Trường Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 117/2025/HS-PT ngày 06/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về hình sự (cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)

  • Số bản án: 117/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị T. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2025/HS-ST ngày 15/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ về hình phạt đối với bị cáo Trần Thị T cụ thể: Tuyên bố bị cáo Trần Thị T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger