Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản án số: 117/2025/HS-PT

Ngày 02 - 12 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Doanh.

Các Thẩm phán: Ông Đặng Minh Tuân và ông Dương Văn Bản

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa:

Bà Phùng Thị Kim Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 02/12/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 94/2025/TLPT-HS ngày 01/10/2025 đối với các bị cáo Lê Thị Ánh H, Nguyễn Việt N do có kháng cáo của các bị cáo H, N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2025/HS-ST ngày 24/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên.

Bị cáo kháng cáo:

1. Lê Thị Ánh H (tên gọi khác: Không); sinh ngày 04 tháng 11 năm 1984 tại tỉnh Thái Nguyên.

Nơi đăng ký HKTT: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (nay là phường T, tỉnh Thái Nguyên); nơi ở hiện tại: Tổ A, phường G, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (nay là phường G, tỉnh Thái Nguyên); quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Lê Anh Đ, sinh năm 1948 và bà Đào Thị Bích T, sinh năm 1950; có chồng Phạm Ngọc Đ1, sinh năm 1982 (Đã ly hôn); con: Có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân:

  • + Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 163/2018/HSST ngày 20/4/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999. Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 155/HSPT ngày 04/10/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo H, giữ nguyên bản

2

án hình sự sơ thẩm. Đã chấp hành xong hình phạt tù 15/01/2021. Thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm ngày 14/3/2019.

  • + Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 376/QĐ-XPHC ngày 15/10/2019 của Công an huyện S, thành phố Hà Nội xử phạt số tiền 3.000.000 đồng về hành vi “Sử dụng chứng minh nhân dân giả”. Đã nộp phạt ngày 30/10/2019.

Hiện bị cáo đang được tại ngoại tại địa phương (Có mặt tại phiên tòa).

2. Nguyễn Việt N (tên gọi khác: Không); Sinh ngày 10 tháng 12 năm 1981 tại tỉnh Thái Nguyên.

Nơi đăng ký HKTT: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (nay là phường T, tỉnh Thái Nguyên); quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1954 và bà Trần Thị L1, sinh năm 1958; có vợ Lê Như Q, sinh năm 1983; con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân:

  • + Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 133/HSST ngày 17/5/2000 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 1985. Đã chấp hành xong hình phạt, nộp án phí ngày 04/6/2003.
  • + Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 359/2010/HSST ngày 19/11/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt số tiền 5.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999. Đã thi hành xong hình phạt và án phí ngày 11/8/2011.

Hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương (Có mặt tại phiên tòa).

* Trong vụ án còn có các bị cáo Trương Quang T1, Đoàn Thị Thanh T2, Lê Trung H1; những người làm chứng Tống Văn T3, Nguyễn Thị T4, Vũ Thị Khánh L2, Đặng Thị P, Nguyễn Thị N1 không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ ngày 01/7/2024, Công an thành phố T nhận được tin báo của quần chúng nhân dân với nội dung: Tại phòng trọ số 05 thuộc xóm trọ của chị Trần Thị N2 (Sinh năm 1984), địa chỉ: Tổ A, phường G, thành phố T thường xuyên có các đối tượng tụ tập có hành vi vi phạm pháp luật. Tổ công tác Đ3

3

Công an thành phố T phối hợp cùng Công an phường G, thành phố T tiến hành kiểm tra hành chính địa điểm trên. Thời điểm kiểm tra phát hiện tại phòng trọ trên có 01 nữ giới khai tên Lê Thị Ánh H (Sinh năm 1984; HKTT: Tổ A, phường T, TP T) có biểu hiện nghi vấn liên quan đến hành vi đánh bạc. Qua đấu tranh ban đầu, H khai nhận bản thân có đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề qua tin nhắn điện thoại di động đồng thời tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 chiếc điện thoại di động có liên quan đến hành vi đánh bạc trên. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản, thu giữ chiếc điện thoại nhãn hiệu SamsungGalaxy A34 5G, màu bạc, số Imei1: 352879322067084, số Imei2: 353339562067087, bên trong lắp thẻ sim có số thuê bao là: 0982.995.758 của H và yêu cầu H về trụ sở Cơ quan điều tra để làm rõ sự việc.

Tại Cơ quan điều tra H khai nhận: Bản thân H ngoài công việc kinh doanh quán ăn tại địa chỉ A M thuộc phường P, thành phố T thì H đã lợi dụng mối quan hệ của mình bán số lô, đề cho các đối tượng khác qua điện thoại di động. Để thực hiện hành vi trên, H sử dụng tài khoản Telegram hoặc Zalo đăng ký bằng sim số thuê bao 0982.995.758 lắp trên điện thoại di động nhãn hiệu SamsungGalaxy A34 5G, màu bạc để nhận số lô, đề của khách sau đó tổng hợp lại rồi sử dụng tài khoản Telegram của mình nhắn tin chuyển các số lô, đề cho các đối tượng khác với tỷ lệ thấp hơn để hưởng lợi tiền chênh lệch.

Trong ngày 01/7/2024, H thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô, đề của mình cho những người như sau:

1. Bán cho Nguyễn Việt N:

N sử dụng điện thoại nhãn hiệu Samsung màu đen, loại cảm ứng lắp sim số thuê bao 0829.269.603 đăng ký tài khoản Telegram nhắn tin cho H qua tài khoản Telegram đăng ký bằng số thuê bao 0982.995.758 (Hồng lưu trong danh bạ là hình mặt cười) để mua số lô, đề. Do N là em rể của H nên H bán số lô, đề bằng với giá H mua lại của người khác mà không hưởng chênh lệch, cụ thể mỗi số lô bán với giá 21.800 đồng /01 điểm lô. Với hình thức trên, vào ngày 01/7/2024 N nhắn tin mua của H 54 số lô mỗi số 180 điểm. Tổng là 9720 điểm. Thành tiền là: 54 x 180 x 21.800 đồng = 211.896.000 đồng.

Ngoài ra, đối với các khách khác H bán số lô, đề với tỷ lệ cao hơn rồi tổng hợp lại để mua lại của người khác với tỷ lệ thấp hơn để hưởng chênh lệch, cụ thể như sau:

  • - Số đề bán với giá 75% trên tổng số tiền, mua lại với giá 72% trên tổng số tiền mua.
  • - Số ba càng bán với giá 75% trên tổng số tiền, mua lại với giá 61% trên tổng số tiền mua.
  • - Số lô bán với giá 22.000 đồng /01 điểm lô, mua lại với giá 21.800 đồng/ 01 điểm lô.
  • - Số cặp lô xiên (2,3,4) đều bán với giá 70% trên tổng số tiền, mua lại với giá lần lượt (65% - 59% - 57%) trên tổng số tiền mua.

Trong ngày 01/7/2024 H bán các số lô, đề cho các đối tượng như sau:

4

2. Bán cho đối tượng tên P1

(Chưa xác định lai lịch) sử dụng tài khoản Zalo Hồng lưu trong danh bạ là “Phong Nguyễn T5” nhắn tin mua của H 02 số lô với tổng số điểm là 1350 điểm, thành tiền: 1350 x 22.000 đồng = 29.700.000 đồng.

3. Bán cho đối tượng tên G

(Chưa xác định lai lịch) sử dụng số thuê bao 0965.282.868 (H không lưu tên trong danh bạ điện thoại) nhắn tin SMS cho H mua 02 số đề với số tiền là 1.000.000 đồng; 01 số ba càng với số tiền là 500.000 đồng; 03 số lô với số điểm là 700 điểm thành tiền là: 700 x 22.000 = 15.400.000 đồng; 01 cặp lô xiên hai với số tiền là là 1.000.000 đồng. Tổng số tiền H bán số lô, đề cho G là: 17.900.000 đồng.

H đã chuyển các số lô, đề cho những người có tên sau:

4. Đối tượng tên Q1

(chưa xác định lai lịch): Sau khi bán các số lô, đề cho Nguyễn Việt N, Hồng tự tổng hợp lại toàn bộ các số lô, đề đã mua của N rồi tự thêm các số lô, đề của bản thân cần mua sau đó sử dụng tài khoản Telegram đăng ký bằng số thuê bao 0982.995.758 của H chuyển (mua lại) của đối tượng tên Q1 (chưa xác định lai lịch) qua tài khoản Telegram của Q1 đăng ký bằng số thuê bao 0338.091.256 các số lô, đề với tổng số tiền mua số lô, đề của Q1 là: 216.366.000 đồng (số tiền phải thanh toán thực tế là: 215.921.000 đồng).

5. Đối tượng Trương Quang T1:

Sau khi bán các số lô, đề cho các đối tượng P1 và G, H tổng hợp lại sau đó thêm các số lô, đề của bản thân cần mua rồi sử dụng tài khoản Telegram đăng ký bằng số thuê bao 0982.995.758 nhắn tin đến tài khoản Telegram của T1 mà mà Hồng lưu trong danh bạ là “T T” mua các số lô, đề của T1 với tỷ lệ thấp hơn như nêu trên để hưởng chênh lệch. Cụ thể trong ngày 01/7/2024, H mua của T1 các số lô, đề như sau: 04 số đề với số tiền là 1.150.000 đồng; 01 số ba càng với số tiền là 500.000 đồng, 12 số lô với 2250 điểm thành tiền là: 2250 x 21.800 = 49.050.000 đồng; 07 cặp lô xiên 2 với số tiền 1.800.000 đồng; 04 cặp lô xiên 3 là 400.000 đồng; 01 cặp lô xiên 4 là 100.000 đồng. Tổng số tiền H mua số lô, đề của T1 là: 53.000.000 đồng (số tiền phải thanh toán thực tế: 51.646.000 đồng).

Tổng số tiền Lê Thị Ánh H đánh bạc trong ngày 01/7/2024 với N, T1 là: 264.896.000 đồng và với các đối tượng khác là: 263.966.000 đồng. Tại thời điểm phát hiện hành vi đánh bạc của Lê Thị Ánh H chưa có kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng ngày 01/7/2024.

Căn cứ lời khai của Lê Thị Ánh H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành xác minh và triệu tập đối tượng Trương Quang T1 để làm việc đồng thời tạm giữ của T1 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 13, màu đen, lắp sim số thuê bao 0865.578.125 liên quan đến hành vi mua bán số lô, đề của T1 với các đối tượng liên quan.

Tại Cơ quan điều tra, Trương Quang T1 khai nhận như sau: Bản thân T1 trong quá trình làm việc và sinh sống đã lợi dụng các mối quan hệ của mình bán các số lô, đề cho các đối tượng xã hội. Để thực hiện hành vi trên, T1 sử dụng 01

5

chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 13, màu đen, lắp sim số thuê bao 0865.578.125 đăng ký tài khoản Telegram để nhận tin nhắn mua số lô, đề của khách sau đó sử dụng ứng dụng LotteryVN đồng bộ trên Telegram phân tích các số lô, đề trên rồi nhắn tin qua tài khoản Telegram của Đ2 đăng ký bằng số thuê bao 0862.756.832 (T1 lưu trong danh bạ điện thoại là “Dy”) để mua (chuyển) các số lô, đề với giá thấp hơn nhằm hưởng chênh lệch.

Với cách thức trên, trong ngày 01/7/2024 T1 có hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán các số lô, đề của mình cho những người như sau:

1. Bán cho Lê Thị Ánh H

qua ứng dụng Telegram mà H đăng ký bằng số thuê bao 0982.335.758 (T1 lưu trong danh bạ là “CHD”) các số lô, đề như H đã khai ở trên với tổng số tiền là: 53.000.000 đồng (số tiền phải thanh toán thực tế: 51.646.000 đồng).

2. Bán cho Đoàn Thị Thanh T2

(Sinh năm 1990, HKTT: Tổ A, phường T, thành phố T) sử dụng tài khoản Telegram đăng ký bằng số thuê bao 0339.742.282 (T1 lưu lưu trong danh bạ là “TB”) với tỷ lệ như sau:

  • - Số đề thu với giá 71,6% trên tổng số tiền mua,
  • - Số lô thu với giá 21.700 đồng/ 01 điểm lô

Với tỷ lệ như trên, T1 bán cho T2 20 số đề với số tiền là 25.800.000 đồng (số tiền phải thanh toán thực tế: 25.800.000 x 71,6% = 18.472.800 đồng); Ngoài ra, T1 còn gửi cho T2 01 số lô với 600 điểm thành tiền là: 600 x 21.700 đồng = 13.020.000 đồng để nhờ T2 gửi cho người khác. Tổng số tiền đánh bạc giữa T1 và T2 là 38.820.000 đồng.

3. Bán cho Lê Trung H1

(Sinh năm 1986, HKTT: Tổ A, phường P, thành phố T) sử dụng ứng dụng Telegram đăng ký bằng số thuê bao 0982.754.184 (T1 lưu trong danh bạ là “HT”) các số lô, đề, số ba càng với tỷ lệ phần trăm giống bán cho Lê Thị Ánh H.

Với tỷ lệ như trên, T1 bán cho H1 184 số đề với số tiền là 8.870.000 đồng (thực tế bán: 8.870.000 x 72% = 6.386.400 đồng); 01 số lô với 20 điểm thành tiền là: 20 x 21.800 đồng = 436.000 đồng. Tổng số tiền T1 bán số lô, đề cho H1 là: 9.306.000 đồng (số tiền phải thanh toán thực tế: 6.822.400 đồng).

4. Bán cho đối tượng tên T3

(Không xác định lai lịch). Theo T1 khai T3 có lai lịch là Tống Văn T3 (Sinh năm 1992; HKTT: Xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên) sử dụng tài khoản Telegram đăng ký bằng số thuê bao 0333.356.005 (T1 lưu trong danh bạ là “Trung T6”) 48 số đề với tổng số tiền là: 3.360.000 đồng.

5. Bán cho đối tượng tên T4

(Không xác định lai lịch). Theo T1 khai nhận T4 có lai lịch là Nguyễn Thị T4 (Sinh năm 1992; HKTT: Tổ A, phường P, thành phố T) sử dụng tài khoản Telegram đăng ký bằng số thuê bao 0962.613.256 (T1 lưu trong danh bạ là “Ct”) 83 số đề với số tiền là 11.600.000 đồng; 01 số ba

6

càng với số tiền là 50.000 đồng. Tổng số tiền T1 bán số lô, đề cho T4 là: 11.650.000 đồng.

6. Mua của đối tượng tên Đ2

(Không xác định lai lịch): Sau khi bán cho H, T2, H1 các số lô, đề như trên T1 mua của Đ2 với tỷ lệ thấp hơn nhằm hưởng chênh lệch gồm: 232 số đề với số tiền là 55.880.000 đồng; 02 số ba càng với số tiền là 550.000 đồng; 12 số lô với 1670 điểm thành tiền là: 1670 x 21.710 = 36.255.700 đồng; 07 cặp lô xiên 2 với số tiền là 1.800.000 đồng; 04 cặp lô xiên 3 với số tiền là 400.000 đồng; 01 cặp lô xiên 4 với số tiền là 100.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền T1 mua số lô, đề của Đ2 là: 94.985.700 đồng (số tiền phải thanh toán thực tế: 78.126.020 đồng). Sau đó, Đ2 nhắn tin lại cho T1 hỏi mua của T1 60 số đề với số tiền là 6.000.000 đồng. Tổng số tiền T1 đánh bạc với Đ2 dưới hình thức mua bán số lô, đề trong ngày 01/7/2024 là: 100.985.700 đồng.

Tổng số tiền Trương Quang T1 đánh bạc trong ngày 01/7/2024 với H, T2 và H1 là: 101.126.000 đồng và với những người không quen biết là: 115.995.700 đồng. Tại thời điểm bị phát hiện, giữa T1 và các đối tượng trên đều chưa thanh toán tiền đánh bạc với nhau.

Tiến hành mở rộng điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành xác minh và triệu tập đối tượng Đoàn Thị Thanh T2 để làm việc đồng thời tạm giữ của T2 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR, màu vàng, bên trong lắp sim số thuê bao 0339.742.282 liên quan đến hành vi mua bán số lô, đề của T2 với các đối tượng liên quan.

Tại Cơ quan điều tra, Đoàn Thị Thanh T2 khai nhận như sau: Bản thân T2 có mối quan hệ xã hội với Trương Quang T1. Do biết T1 bán số lô, đề qua tin nhắn điện thoại nên T2 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR, màu vàng, bên trong lắp sim số thuê bao 0339.742.282 của T2 đăng ký tài khoản Telegram nhắn tin cho T1 và một số đối tượng khác mua số lô, đề trong ngày 01/7/2024. Cụ thể như sau:

1. Mua của Trương Quang T1

sử dụng tài khoản Telegram đăng ký bằng số thuê bao 0865.578.125 (T2 lưu lưu trong danh bạ là “Ml Tùng L3”) với tỷ lệ thỏa thuận và các số lô, đề như T1 đã khai ở trên với tổng số tiền là 38.820.000 đồng.

2. Mua của đối tượng tên N3

(Không xác định lai lịch) qua tài khoản Telegram của N3 đăng ký bằng sim số thuê bao 0363.668.315 (Thảo không lưu trong danh bạ) gồm: 20 số đề với số tiền là 2.360.000 đồng và 06 số lô với 12 điểm thành tiền là: 12 x 21.700 đồng = 260.400 đồng. Tổng số tiền T2 mua số lô, đề của Nghĩa là: 2.620.400 đồng.

3. Mua của đối tượng tên H2

(Không xác định lai lịch) qua tài khoản Telegram của H2 đăng ký bằng sim số thuê bao 0339.871.937 (T2 lưu trong danh bạ là “Ml hoa hoa”) gồm: 20 số đề với số tiền là 13.517.000 đồng và 01 số lô với 50 điểm thành tiền là: 50 x 21.700 đồng = 1.085.000 đồng. Tổng số tiền T2 mua số lô, đề của H2 là: 14.602.000 đồng.

7

4. Mua của đối tượng tên L2

(Không xác định lai lịch) qua tài khoản Telegram của L2 đăng ký bằng sim số thuê bao 0866.022.598 (T2 lưu trong danh bạ là “Linh Linh tồ”) gồm: 18 số đề với số tiền là 22.000.000 đồng và 11 số lô với tổng 723 điểm thành tiền là: 723 x 21.680 đồng = 15.746.640 đồng. Tổng số tiền T2 mua số lô, đề của L2 là: 37.746.640 đồng.

Tổng số tiền Đoàn Thị Thanh T2 đánh bạc trong ngày 01/7/2024 với Trương Quang T1 là: 38.820.000 đồng và với những người không quen biết là: 54.969.040 đồng. Tại thời điểm bị phát hiện, giữa T2 và các đối tượng trên đều chưa thanh toán tiền đánh bạc với nhau.

Tiến hành mở rộng điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành xác minh và triệu tập đối tượng Lê Trung H1 để làm việc đồng thời tạm giữ của H1 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A8, màu đen, bên trong lắp sim số thuê bao 0982.754.184 liên quan đến hành vi mua bán số lô, đề của H1 với Trương Quang T1.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Trung H1 khai nhận toàn bộ hành vi sử dụng chiếc điện thoại trên đăng ký tài khoản Telegram bằng số thuê bao 0982.754.184 nhắn tin đến tài khoản Telegram của Trương Quang T1 đăng ký bằng số thuê bao 0865.578.125 trong ngày 01/7/2024 mua của T1 gồm: 184 số đề với số tiền là 8.870.000 đồng; 01 số lô với 20 điểm thành tiền là: 20 x 21.800 đồng = 436.000 đồng. Tổng số tiền H1 mua số lô, đề của T1 là: 9.306.000 đồng (số tiền phải thanh toán thực tế: 6.822.400 đồng).

Về hình thức đánh bạc các bị cáo quy ước như sau: Hàng ngày, người mua sẽ chọn mua các số lô, số đề dưới dạng một hoặc nhiều cặp số bất kì từ 00 đến 99 sau đó sẽ nhắn tin đến cho người bán. Đối với số lô, người mua sẽ mua với giá cố định của từng điểm lô còn đối với số đề sẽ mua riêng từng số với các số tiền khác nhau theo từng tin nhắn cụ thể. Sau đó, người mua và người bán sẽ so sánh kết quả xổ số kiến thiết miền B được công bố lúc 18 giờ 30 phút hằng ngày để tính toán tiền thắng thua. Số lô nào trùng với hai số cuối của 27 giải thì trúng thưởng và trả thưởng cho khách với giá 80.000 đồng/01 điểm; Các cặp lô xiên (2,3,4) là tất cả các số lô trong các cặp lô xiên trên đều trùng với hai số cuối của 27 giải thì trúng thưởng, lô xiên hai trả thưởng gấp 10 lần, lô xiên 3 trả gấp 40 lần và lô xiên 4 trả gấp 100 lần so với tổng số tiền mua; Đối với số đề nếu trùng với hai số cuối của giải đặc biệt thì trúng thưởng và sẽ trả thưởng gấp 70 lần so với tổng số tiền mua; Đối với số ba càng nếu trùng với ba số cuối của giải đặc biệt thì trúng thưởng và trả thưởng gấp 350 lần so với tổng số tiền mua.

Vật chứng của vụ án cơ quan điều tra đã thu giữ

  • - 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SamsungGalaxy A34 5G, màu bạc, số Imei1: 352879322067084, số Imei2: 353339562067087, bên trong lắp sim số thuê bao 0982.995.758 của Lê Thị Ánh H.

8

  • - 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 13, màu đen, số Imei1: 860870073351947, số Imei2: 860870073351954, bên trong lắp sim số thuê bao 0865.578.125 của Trương Quang T1.
  • - 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR, màu vàng, số I: 3528899117336727, bên trong lắp sim số thuê bao 0339.742.282 của Đoàn Thị Thanh T2.
  • - 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A8, màu đen, số Imei1: 352158092971183, số Imei2: 352159092971181, bên trong lắp sim số thuê bao 0982.754.184 của Lê Trung H1.

Hiện số vật chứng trên được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2025/HS-ST ngày 24/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên đã quyết định:

Tuyên bố: Các bị cáo Trương Quang T1, Lê Thị Ánh H, Nguyễn Việt N, Đoàn Thị Thanh T2, Lê Trung H1 phạm tội “Đánh bạc”.

Về hình phạt:

  • - Căn cứ vào: Điểm b khoản 2, Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trương Quang T1: 03 (ba) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
  • - Căn cứ vào: Điểm b khoản 2, Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Thị Ánh H 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
  • - Căn cứ vào: Điểm b khoản 2, Điều 321; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Việt N 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
  • - Căn cứ vào: Khoản 1, Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Đoàn Thị Thanh T2: 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đoàn Thị Thanh T2 cho Ủy ban nhân phường P, tỉnh Thái Nguyên giáo dục; Công an phường P, tỉnh Thái Nguyên giám sát trong thời gian thử thách.

1.5. Căn cứ vào:

Khoản 1, Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Trung H1 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lê Trung H1 cho Ủy ban nhân phường P, tỉnh Thái Nguyên giáo dục; Công an phường P, tỉnh Thái Nguyên giám sát trong thời gian thử thách.

9

2. Về hình phạt bổ sung:

  • - Phạt tiền bị cáo Trương Quang T1 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) được trừ vào số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) bị cáo đã nộp theo biên lai thu số 0000107 ngày 22/7/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên. Bị cáo còn phải nộp số tiền phạt là 10.000.000đ (mười triệu đồng) vào ngân sách nhà nước.
  • - Phạt tiền các bị cáo Lê Thị Ánh H, Nguyễn Việt N mỗi bị cáo 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.
  • - Phạt tiền bị cáo Đoàn Thị Thanh T2, Lê Trung H1 mỗi bị cáo 10.000.000đ (mười triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, tuyên quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04/8/2025, các bị cáo Lê Thị Ánh H, Nguyễn Việt N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các bị cáo H, N giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo H, N về tội Đánh bạc theo điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Mức hình phạt cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp, đảm bảo tính răn đe, giáo dục. Tuy nhiên tại cấp phúc thẩm các bị cáo cung cấp thêm tài liệu chứng cứ mới là biên lai tạm thu tiền phạt và án phí. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 23/2025/HS-ST ngày 24/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên, giảm hình phạt tù cho các bị cáo H, N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Kháng cáo của các bị cáo đảm bảo về chủ thể và thời hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, nên được Hội đồng xét xử xem xét theo quy định.

[2] Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa, qua phần xét hỏi công khai, các bị cáo thừa nhận hành vi đánh bạc như bản án sơ thẩm đã tuyên. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:

10

Trong ngày 01/7/2024 tại địa bàn thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, Trương Quang T1, Lê Thị Ánh H, Nguyễn Việt N, Đoàn Thị Thanh T2, Lê Trung H1 thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề thông qua tin nhắn SMS và ứng dụng Telegram, Zalo đăng nhập trên điện thoại di động, cụ thể như sau:

  • - Lê Thị Ánh H đánh bạc với Nguyễn Việt N với số tiền là: 211.896.00 đồng và đánh bạc với Trương Quang T1 với số tiền là: 53.000.000 đồng. Tổng số tiền H đánh bạc với N và T1 là: 264.896.000 đồng.
  • - Nguyễn Việt N đánh bạc với Lê Thị Ánh H với số tiền là: 211.896.00 đồng.
  • - Trương Quang T1 đánh bạc với Lê Thị Ánh H với số tiền là: 53.000.000 đồng. Đánh bạc với Đoàn Thị Thanh T2 với số tiền là 38.820.000 đồng và đánh bạc với Lê Trung H1 với số tiền là: 9.306.000 đồng. Tổng số tiền T1 đánh bạc với H, T2 và H1 là: 101.126.000 đồng.
  • - Đoàn Thị Thanh T2 đánh bạc với Trương Quang T1 với số tiền là: 38.820.000 đồng.
  • - Lê Trung H1 đánh bạc với Trương Quang T1 với số tiền là: 9.306.000 đồng.

Hành vi nêu trên của các bị cáo Lê Thị Ánh H, Nguyễn Việt N đã phạm vào tội “Đánh bạc” quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo H, N về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan.

[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo:

Trong vụ án này, Lê Thị Ánh H, Nguyễn Việt N, Trương Quang T1, Đoàn Thị Thanh T2, Lê Trung H1 tham gia đồng phạm với vai trò là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

Xét thấy mặc dù bị cáo H, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo N có tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng trước khi thực hiện hành vi đánh bạc vào ngày 01/7/2024, các bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo H đã một lần bị kết án và một lần bị xử phạt hành chính, bị cáo N đã nhiều lần bị kết án xử lý hình sự trong đó có lần phạm tội “Đánh bạc” nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội, thể hiện thái độ coi thường pháp luật. Số tiền các bị cáo tham gia đánh bạc lớn. Tổng số tiền bị cáo H đánh bạc là 264.896.000 đồng; bị cáo N tham giá đánh bạc với số tiền 211.896.000 đồng. Cấp sơ thẩm đã căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo để quyết định mức hình phạt là 04 (bốn) năm tù đối với các bị cáo H, N là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đảm bảo tính giáo dục cho các bị cáo và tính răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo H đã nộp số tiền 15.400.000 đồng và bị cáo N đã nộp số tiền 15.200.000 đồng theo biên lai

11

thu của Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt của bị cáo H, N.

[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên

tại phiên tòa phúc thẩm là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Xác nhận bị cáo H đã nộp tạm ứng tiền phạt, án phí với số tiền 15.400.000 đồng và bị cáo N đã nộp số tiền 15.200.000 đồng tại Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.

[5] Về án phí:

Kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[6] Các quyết định khác

của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Thị Ánh H, Nguyễn Việt N.

Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2025/HS-ST ngày 24/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên về phần hình phạt của các bị cáo Lê Thị Ánh H, Nguyễn Việt N.

2. Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Ánh H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Phạt bổ sung bị cáo 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.

- Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Việt N 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Phạt bổ sung bị cáo 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.

3. Xác nhận bị cáo Lê Thị Ánh H

đã nộp tạm thu tiền phạt, án phí số tiền 15.400.000đ (mười lăm triệu bốn trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu tiền số

12

0000308 ngày 26/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên. Bị cáo Nguyễn Việt N đã nộp tạm thu tiền phạt, án phí số tiền 15.200.000đ (mười lăm triệu hai trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu tiền số 00003746 ngày 26/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.

4. Về án phí:

Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Các bị cáo Lê Thị Ánh H, Nguyễn Việt N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

5. Các quyết định khác

của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Phòng Hồ sơ CA tỉnh Thái Nguyên ;
  • - VKSND khu vực 1 - Thái Nguyên;
  • - TAND khu vực 1 - Thái Nguyên;
  • - THADS tỉnh Thái Nguyên;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thế Doanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 117/2025/HS-PT ngày 02/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự phúc thẩm về tội đánh bạc

  • Số bản án: 117/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 02/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Ánh H phạm tội Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger