Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRỰC NINH

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 117/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 30-6-2025

V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Hoàng Giang

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Phạm Hồng Thái
  2. Ông Nguyễn Văn Chuyết

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thanh Hiếu - Thư ký viên TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.

- Đại diện VKSND huyện Trực Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị T - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện Trực Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 68/2025/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1981

CCCD số: [...], cấp ngày 13/5/2024

Nơi cư trú: Số nhà I, tổ G, Ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Bị đơn: Ông Trần Văn L, sinh năm 1973

Nơi thường trú: TDP N, thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định.

Tại phiên tòa: Bà N có đơn xin xét xử vắng mặt, ông L vắng mặt lần thứ 2 không có lý do dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị N trình bày:

Bà Nguyễn Thị N và ông Trần Văn L có đăng ký kết hôn vào ngày 23/11/1999 tại UBND xã C (nay là thị trấn C), huyện T, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay không ai còn quan tâm đến nhau. Nhận thấy tình cảm giữa bà với ông L không còn, không thể chung sống cùng nhau được nữa, bà đề nghị Toà án giải quyết ly hôn giữa bà và ông Trần Văn L để bà yên tâm làm ăn, sinh sống.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Trần Văn L1, sinh ngày 17/9/2000, Trần Văn D, sinh ngày 01/9/2002 và Trần Diễm Q, sinh ngày 26/11/2012. Cả ba con chung đang ở cùng với ông L. Hiện tại, cháu L1 đã trưởng thành và lập gia đình, cháu D đã trên 18 tuổi và có công việc nên bà không yêu cầu Toà án giải quyết. Sau khi ly hôn, bà có nguyện vọng được nuôi cháu Trần Diễm Q và không yêu cầu ông L cấp dưỡng tiền nuôi con. Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng, bà không yêu cầu Toà án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án nhân dân huyện Trực Ninh nhiều lần triệu tập ông L đến Toà án trình bày quan điểm nhưng ông L không đến làm việc, tại buổi làm việc tại Tòa án ngày 16/5/2025 ông L không ký biên bản làm việc. Vì vậy, Toà án tiến hành xác minh thu thập chứng cứ tại địa phương thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định để làm căn cứ giải quyết theo quy định pháp luật. Kết quả xác minh như sau:

Bà Nguyễn Thị N và ông Trần Văn L tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 23/11/1999 tại UBND xã C (nay là thị trấn C), huyện T, tỉnh Nam Định. Quá trình chung sống, vợ chồng bà N và ông L có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn thì chính quyền địa phương không nắm rõ. Theo thông tin địa phương cung cấp thì vợ chồng bà N và ông L sống ly thân đã lâu, bà N đã bỏ nhà đi khoảng sáu đến bảy năm nay. Vợ chồng bà N và ông L có 03 con chung là Trần Văn L1, sinh ngày 17/9/2000, Trần Văn D, sinh ngày 01/9/2002 và Trần Diễm Q, sinh ngày 26/11/2012. Cả ba con chung đang ở cùng với ông L. Về tài sản, khoản nợ, công sức đóng góp của vợ chồng bà N và ông L địa phương không nắm được.

Ủy ban nhân dân thị trấn C phân công cán bộ phụ trách cơ sở T2 dẫn đoàn làm việc của Toà án xuống nhà ông Trần Văn L để làm việc. Tuy nhiên, khi xuống nhà ông L làm việc thì con trai ông L thông báo ông L đã đi làm xa mấy hôm nay. Đại diện Toà án đã giải thích quyền và nghĩa vụ cho gia đình ông L được biết nhưng con trai ông L là anh Trần Văn L1 từ chối không làm việc và không nhận các văn bản tố tụng của Toà án. Vì vậy, chính quyền địa phương và đại diện cơ sở T2 phối hợp cùng với Toà án thực hiện thủ tục niêm yết văn bản tố tụng của Toà án theo quy định pháp luật.

Về yêu cầu xin ly hôn, nuôi con chung của bà N đối với ông L, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa của Thẩm phán và HĐXX đúng quy định của BLTTDS.

Nguyên đơn đã chấp hành nghiêm chỉnh quy định về quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70; 71 BLTTDS;

Bị đơn mặc dù đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có mặt và không xuất trình chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình, là vi phạm quy định về quyền và nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại các Điều 70; 72 BLTTDS

Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án khi nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 là đúng quy định tại Điều 238 BLTTDS.

Về nội dung: Xét thấy vợ chồng bà N và ông L mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị N:

  • Xử ly hôn giữa bà Nguyễn Thị N và ông Trần Văn L.
  • Về con chung: Bà Nguyễn Thị N và ông Trần Văn L có 03 con chung là Trần Văn L1, sinh ngày 17/9/2000, Trần Văn D, sinh ngày 01/9/2002 và Trần Diễm Q, sinh ngày 26/11/2012. Cả ba con chung đang ở cùng với ông L. Hiện cháu L1 đã trưởng thành và lập gia đình, cháu D đã trên 18 tuổi và có công việc nên không xem xét. Cháu Trần Diễm Q có nguyện vọng ở cùng với bà N. Áp dụng Điều 81, 83 Luật HNGĐ, căn cứ điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc của bà N, ông L, đề nghị HĐXX giao cho bà Nguyễn Thị N nuôi dưỡng con chung là Trần Diễm Q, sinh ngày 26/11/2012. Việc bà N không yêu cầu ông L cấp dưỡng tiền nuôi con là tự nguyện nên được chấp nhận.
  • Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp: Đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
  • Về án phí: Đương sự phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành các thủ tục tống đạt văn bản tố tụng cho nguyên đơn, bị đơn được biết. Nguyên đơn đã chấp hành nghiêm chỉnh quy định về quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70; 71 BLTTDS. Bị đơn mặc dù đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có mặt tại các buổi làm việc để xuất trình chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là vi phạm quy định về quyền và nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại các Điều 70; 72 BLTTDS.

Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án khi nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 là đúng quy định tại Điều 238 BLTTDS.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị N và ông Trần Văn L tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 23/11/1999 tại UBND xã C (nay là thị trấn C), huyện T, tỉnh Nam Định. Như vậy cuộc hôn nhân này là hợp pháp theo quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Trong quá trình chung sống giữa bà Nguyễn Thị N và ông Trần Văn L đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng sống ly thân đã lâu, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận nguyện vọng xin ly hôn của bà N để giải phóng cho hai bên là phù hợp với quy định tại Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[3] Về con chung, cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Nguyễn Thị N và ông Trần Văn L có 03 con chung là Trần Văn L1, sinh ngày 17/9/2000, Trần Văn D, sinh ngày 01/9/2002 và Trần Diễm Q, sinh ngày 26/11/2012. Cả ba con chung đang ở cùng với ông L. Hiện cháu L1 đã trưởng thành và lập gia đình, cháu D đã trưởng thành tự lập và có công việc nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Xét nguyện vọng, điều kiện (có đơn trình bày và xác nhận của UBND xã L, huyện T, tỉnh Đồng Nai) của bà N được nuôi dưỡng cháu Trần Diễm Q và không yêu cầu ông L cấp dưỡng tiền nuôi con. Quá trình giải quyết vụ án, HĐXX thấy ông L đi làm xa thường xuyên không có nhà và không đến Toà án trình bày quan điểm gì liên quan đến việc nuôi dưỡng con chung, cháu Q có nguyện vọng được ở với bà N. Vì vậy, để đảm bảo điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc và sự phát triển mọi mặt của con chung nên giao cháu Trần Diễm Q cho bà N được nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp với Điều 71, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Việc bà N không yêu cầu ông L cấp dưỡng tiền nuôi con là tự nguyện nên được chấp nhận.

Ông L có thể khởi kiện bằng vụ án khác về thay đổi quyền nuôi dưỡng con chung sau ly hôn nếu như có yêu cầu và có căn cứ chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp: Các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết. Vì vậy, HĐXX không xem xét giải quyết tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng trong vụ án này.

[5] Về án phí: Đương sự phải nộp án phí theo quy định pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa bà Nguyễn Thị N và ông Trần Văn L.
  2. Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị N nuôi dưỡng con chung là Trần Diễm Q, sinh ngày 26/11/2012. Ông Trần Văn L có trách nhiệm giao cháu Trần Diễm Q cho bà Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng.

Chấp nhận sự tự nguyện của bà N không yêu cầu ông L cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Ông L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau ly hôn mà không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

  1. Án phí: Bà Nguyễn Thị N phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ với số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng bà N đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004271 ngày 05/5/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Bà N đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
  2. Quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của BLTTDS.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Trực Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Trực Ninh;
  • - UBND thị trấn Cát Thành;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Hoàng Giang

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 117/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

  • Số bản án: 117/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị N - Trần Văn L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger