Hệ thống pháp luật

Mẫu số 52-DS

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 117/2025/HNGĐ-ST

Ngày 20 tháng 6 năm 2025

V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thanh Vân và ông Đặng Hữu Tấn.

Thư ký phiên tòa: Bà Lý Ngọc Dung - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Long Xuyên tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Ngọc Minh Châu - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 376/2025/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 331/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 326/2025/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Phương H, sinh năm: 1983; Địa chỉ thường trú: số A, tổ H, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang; Địa chỉ hiện nay: số H L, khu phố B, phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh. ĐT: 0774.013.xxx (có đơn xin vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh V, sinh năm: 1982; Địa chỉ thường trú: số C khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang Địa chỉ hiện nay: số B đường N, phường T, quận B, thành phố Hồ Chí Minh. ĐT: 0935.173.xxx (vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết nguyên đơn bà Bùi Thị Phương H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông V tự nguyện quen biết tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh An Giang vào ngày 05/4/2008. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do không có tiếng nói chung, thường xuyên bất đồng quan điểm dẫn đến cự cãi, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc và sống ly thân từ năm 2022 đến nay. Do không còn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thanh V.

Về con chung: có 01 (một) con chung tên Nguyễn Tấn S, sinh ngày: 07/6/2008. Hiện cháu S đang sống cùng bà H, sau khi ly hôn bà H yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về nợ chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Thanh V không có văn bản trình bày ý kiến, không tham dự các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai, chứng cứ và hòa giải cũng như không tham dự phiên tòa do Tòa án triệu tập.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn bà Bùi Thị Phương H có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Thanh V được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai, không có lý do và không tham gia phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án; Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự và còn phải chịu hậu quả pháp lý theo quy định pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Nguyên đơn, bị đơn tự nguyện tiến đến hôn nhân và đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn là có cơ sở theo quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận; Về con chung: có 01 (một) con chung tên Nguyễn Tấn S, sinh ngày: 07/6/2008. Hiện con chung đang sống cùng bà H, sau khi ly hôn, bà H yêu cầu tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu S. Để đảm bảo ổn định về tinh thần cũng như đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung nên đề nghị chấp nhận giao con chung cho bà H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Về cấp dưỡng, tài sản chung, nợ chung: không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Bùi Thị Phương H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thanh V. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý là đúng thẩm quyền.

[2] Tại biên bản xác minh tình trạng cư trú ngày 26/4/2025, Công an phường B, thành phố L xác nhận: Nguyễn Thanh V, sinh năm 1982, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại số C khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang. Tòa án đã tiến hành tống đạt trực tiếp, niêm yết các văn bản tố tụng cho bị đơn hợp lệ nhưng bị đơn đã từ chối các quyền, cũng như không thực hiện nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Nguyên đơn bà H có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Thanh V mặc dù được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật nhưng ông V vẫn không tham dự phiên tòa. Do đó, căn cứ vào Điều 227, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

- Về nội dung tranh chấp:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông V quen biết nhau, có thời gian yêu thương, tìm hiểu và tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật là phù hợp Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận. Khi vợ chồng chung sống thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, bất đồng về quan điểm sống, đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án bà H xác định không còn tình cảm với ông V, giữa vợ chồng mâu thuẫn không thể hàn gắn được nên bà H cương quyết yêu cầu ly hôn, ông V cũng không có ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của bà H.

Hội đồng xét xử nhận thấy, hôn nhân phải trên cơ sở tự nguyện, bà H xác định không thể tiếp tục chung sống cùng với ông V, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, giữa vợ chồng không còn thực hiện các quyền và nghĩa vụ cũng như không cố gắng hàn gắn, duy trì cuộc sống hôn nhân. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H là phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về con chung: có 01 (một) con chung tên tên Nguyễn Tấn S, sinh ngày: 07/6/2008. Hiện con chung đang sống cùng bà H, sau khi ly hôn, bà H yêu cầu tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu S.

Xét thấy, trong thời gian bà H và ông V sống ly thân thì cháu S do bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, cháu vẫn phát triển tốt về mọi mặt. Vì vậy, nhằm để ổn định cuộc sống của con chung không bị ảnh hưởng tâm sinh lý về việc cha, mẹ ly hôn và đảm bảo quyền lợi mọi mặt cũng như phù hợp với biên bản ghi nhận ý kiến con chung ngày 16/5/2025 là cháu S có nguyện vọng được chung sống với mẹ. Mặt khác, trong quá trình giải quyết ông V không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu của bà H về việc giao con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Nguyễn Tấn S, sinh ngày: 07/6/2008 cho bà Bùi Thị Phương H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng là chính đáng và có cơ sở theo quy định tại Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[5] Về cấp dưỡng: theo quy định pháp luật, sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, bà H không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: ghi nhận ý kiến của bà H trình bày không có nên không đề cập giải quyết.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Ông V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 235; Điều 266; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Bùi Thị Phương H đối với ông Nguyễn Thanh V.

[2] Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Tấn S, sinh ngày: 07/6/2008 cho bà Bùi Thị Phương H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành.

Ông Nguyễn Thanh V không trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được ngăn cản ông V thực hiện quyền này. Việc nuôi con không cố định.

[3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: không xem xét, giải quyết.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Bùi Thị Phương H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0002765 ngày 25/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Bà H đã nộp xong.

Ông Nguyễn Thanh V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

[6] Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND TP Long Xuyên;
  • - Chi cục THADS TP.Long Xuyên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - VP (5)./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 117/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 117/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hạnh - Vẹn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger