Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIÊN LƯƠNG

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 117/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 16-6-2025

V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN LƯƠNG TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thành Minh

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Văn Đạt
  2. Ông Dương Sơn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhi – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương.

Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 120/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2025 về “tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Chế Ngọc H, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ B, khu phố N, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang; Căn cước công dân số [...]; ngày cấp: 13/4/2021; nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội; vắng mặt, có đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Huỳnh Hoài P, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ B, khu phố N, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang; Căn cước công dân số [...]; ngày cấp: 13/4/2021; nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn đề ngày 21/4/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Chế Ngọc H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: bà Chế Ngọc H và ông Huỳnh Hoài P sống chung với nhau từ năm 2006, đến ngày 11/3/2022 mới đến Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chị và ông P chung sống hạnh phúc. Thời gian gần đây, ông P có quan hệ ngoại tình, giữa bà và ông P xảy ra nhiều mâu thuẫn dẫn đến việc vợ chồng sống ly thân từ tháng 01/2025 đến nay. Bà cảm thấy tình nghĩa vợ chồng đã hết, hôn nhân không thể kéo dài nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông P.

- Về con chung: bà H xác định bà và ông P có 01 (một) con chung là Huỳnh Thị Diệu D sinh ngày 20/11/2006. Do con đã trưởng thành nên bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: bà H xác định bà và ông P tự thỏa thận về tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Huỳnh Hoài P đều vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông P đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Bà Chế Ngọc H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Huỳnh Hoài P nên quan hệ tranh chấp của vụ án là tranh chấp về “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS).

Ông Huỳnh Hoài P với tư cách là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại khu phố N, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.

Bà Chế Ngọc H có yêu cầu xét xử vắng mặt, ông Huỳnh Hoài P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên HĐXX căn cứ khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà Chế Ngọc H và ông Huỳnh Hoài P.

[2] Về quan hệ hôn nhân: bà H và ông P sống chung với nhau từ năm 2006, đến ngày 11/3/2022 mới đến Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân thị trấn K cấp giấy chứng nhận kết hôn số 60, ngày 11/3/2022. Do đó, hôn nhân giữa bà H và ông P là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Tuy nhiên, giữa bà H và ông P không thương yêu nhau, sống ly thân, bỏ mặc nhau từ tháng 01/2025 đến nay là không có tình nghĩa vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; ông P còn có quan hệ ngoại tình. Kết hợp những lý do này làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được theo hướng dẫn tại khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2014 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình. Vì vậy, bà H yêu cầu được ly hôn với ông P là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Tòa án chấp nhận.

[3] Về con chung: bà H xác định bà và ông P có 01 (một) con chung là Huỳnh Thị Diệu D sinh ngày 20/11/2006. Do con đã trưởng thành nên bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Xét thấy, con chung của bà H và ông P đã đủ tuổi thành niên và phát triển bình thường về thể chất, bà H và ông P đều không yêu cầu Tòa án xem xét việc nuôi con nên HĐXX không xem xét.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: bà H xác định bà và ông P tự thỏa thận về tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trường hợp các bên có tranh chấp về các mối quan hệ này có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ kiện khác theo quy định của pháp luật.

[5] Về án phí: Căn cứ theo quy định tại khoản 4, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà H phải có nghĩa vụ nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Áp dụng khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2014 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình,

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Chế Ngọc H, cho bà Chế Ngọc H ly hôn với ông Huỳnh Hoài P.
  2. Về con chung: không xem xét việc nuôi con do con chung của bà Chế Ngọc H và ông Huỳnh Hoài P đã đủ tuổi thành niên và phát triển bình thường về chất chất, bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: không xem xét giải quyết việc chia tài sản chugn và nợ chung khi ly hôn do bà H xác định bà và ông P tự thỏa thận về tài sản chung, không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

    Trường hợp các bên có tranh chấp về các mối quan hệ này có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ kiện khác theo quy định của pháp luật.

  4. Về án phí: bà H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015656 ngày 24 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang. Bà H không phải nộp thêm.
  5. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
  6. Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Kiên Lương;
  • - CCTHADS huyện Kiên Lương;
  • - Phòng KTNV và Thi hành án TA tỉnh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh;
  • - UBND thị trấn Kiên Lương
  • (để ghi vào sổ Hộ tịch);
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thành Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 117/2025/HNGĐ-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN LƯƠNG TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 117/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN LƯƠNG TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Về quan hệ hôn nhân: bà Hương và ông Phương sống chung với nhau từ năm 2006, đến ngày 11/3/2022 mới đến Ủy ban nhân dân thị trấn Kiên Lương, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân thị trấn Kiên Lương cấp giấy chứng nhận kết hôn số 60, ngày 11/3/2022. Do đó, hôn nhân giữa bà Hương và ông Phương là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Tuy nhiên, giữa bà Hương và ông Phương không thương yêu nhau, sống ly thân, bỏ mặc nhau từ tháng 01/2025 đến nay là không có tình nghĩa vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; ông Phương còn có quan hệ ngoại tình. Kết hợp những lý do này làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được theo hướng dẫn tại khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2014 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình. Vì vậy, bà Hương yêu cầu được ly hôn với ông Phương là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Tòa án chấp nhận
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger