Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ VANG

THÀNH PHỐ HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 117/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 12/6/2025

V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, THÀNH PHỐ HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Thu
  2. Bà Lê Thị Mẫn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tường Vy- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, thành phố Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang tham gia phiên tòa: ÔngLê Văn Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, thành phố H (Số B Đường H, thị trấn P, huyện P, thành phố H) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 12/2025/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2025 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Hồ Trường S, sinh năm 1974. Địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện P, thành phố H. Có mặt.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1972. Địa chỉ: Thôn D, xã P, huyện P, thành phố H. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Hồ Trường S trình bày như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Hồ Trường S và bà Nguyễn Thị Thúy H chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1993 đến năm 2003 thì đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P vào ngày 27/6/2003. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau được một thời gian tại thôn P, xã P, huyện P, thành phố H thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cải vã, xúc phạm lẫn nhau. Bà H nghi ngờ ông S ngoại tình nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông S xin được ly hôn với bà H.

- Về con chung: Ông Hồ Trường S khai vợ chồng có 03 con chung là cháu Hồ Thị Thu S1, sinh ngày 19/4/1994; cháu Hồ Nguyễn Thúy K, sinh ngày 12/02/2000; cháu Hồ Thị Thanh N, sinh ngày 31/01/2006, hiện các cháu đều đã trên 18 tuổi nên ông S không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Ông Hồ Trường S khai không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản làm việc tại Tòa án, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn Nguyễn Thị Thúy H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Hồ Trường S chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1993, đến năm 2003 thì tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 27/6/2003 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, thành phố H. Vợ chồng chung sống được một thời gian tại thôn P, xã P, huyện P thì xảy ra gây gổ, cải vã, vợ chồng không có tiếng nói chung, ly thân đã được khoảng 03 năm. Ông S không còn tình cảm với bà, bà sống với ông S cũng không có hạnh phúc vì ông S ngoại tình với người phụ nữ khác nhưng bà H vẫn còn tình cảm và muốn đoàn tụ với ông S, bà H không muốn ly hôn vì con cái tác động, không cho ba mẹ ly hôn.

- Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thúy H khai nhận vợ chồng có 03 con chung là cháu Hồ Thị Thu S1, sinh ngày 19/4/1994; cháu Hồ Nguyễn Thúy K, sinh ngày 12/02/2000; cháu Hồ Thị Thanh N, sinh ngày 31/01/2006. Các cháu hiện đều trên 18 tuổi, có sức khỏe bình thường, không ai có nhược điểm về thể chất, tinh thần nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Thúy H khai vợ chồng có 01 căn nhà xây dựng vào năm 2010 ở thôn P, xã P và 01 xe tải hiệu Thaco biển kiểm soát 75C. 098.37, bà H có đơn yêu cầu tòa án giải quyết về tài sản chung. Tuy nhiên sau đó do bà không muốn ly hôn với ông Hồ Trường S nên bà không đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản chung.

- Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Thúy H khai vợ chồng không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án tiến hành xác minh tại Chính quyền địa phương, xác nhận vợ chồng ông Hồ Trường S, bà Nguyễn Thị Thúy H mâu thuẫn đã lâu, vợ chồng không chung sống cùng nhau, bà H đã chuyển về sống tại nhà bố mẹ ruột ở thôn D, xã P được một thời gian.

Tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký đều chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, không có kiến nghị gì cần khắc phục.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Hồ Trường S, cho ông S được ly hôn bà H. Về con chung: Các con đều trên 18 tuổi, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về tài sản chung và nợ chung, các bên không yêu cầu Toà án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí: Buộc ông S phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn bà Nguyễn Thị Thúy H có địa chỉ nơi cư trú tại: xã P, huyện P, thành phố H nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, thành phố H theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông Hồ Trường S và bà Nguyễn Thị Thúy H chung sống với nhau, đã thực hiện đầy đủ các thủ tục về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Xét về yêu cầu ly hôn của ông Hồ Trường S, thấy rằng: Quá trình chung sống, hai bên phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã, xúc phạm lẫn nhau. Hai bên đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay. Từ khi sống ly thân vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc, yêu thương, giúp đỡ nhau. Bà H cũng thừa nhận thực tế vợ chồng đã ly thân khoảng 3 năm, ông S không còn tình cảm với bà, bà H sống với ông S cũng không có hạnh phúc, tuy bà H còn tình cảm và mong muốn đoàn tụ nhưng lại không đưa ra được biện pháp cụ thể để hàn gắn vợ chồng. Chính quyền địa phương xác nhận vợ chồng ông S, bà H đã mâu thuẫn trong thời gian dài, không còn chung sống cùng nhau, bà H đã chuyển về sống tại nhà cha mẹ ruột. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa ông S và bà H đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho ông Hồ Trường S được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thúy H là đúng quy định pháp luật.

[3] Về con chung: Ông Hồ Trường S và bà Nguyễn Thị Thúy H khai vợ chồng có 03 con chung là Hồ Thị Thu S1 (sinh năm 1994), Hồ Nguyễn Thúy K (sinh năm 2000) và Hồ Thị Thanh N (sinh năm 2006), hiện các cháu đều đã thành niên, có khả năng tự lập các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Ông Hồ Trường S và bà Nguyễn Thị Thúy H đều không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp sau này các bên có tranh chấp, có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.

[5] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn ông Hồ Trường S chịu án phí ly hôn 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Hồ Trường S, cho ông Hồ Trường S được ly hôn bà Nguyễn Thị Thúy H; quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Ông Hồ Trường S và bà Nguyễn Thị Thúy H có 03 con chung là Hồ Thị Thu S1, sinh ngày 19/4/1994; Hồ Nguyễn Thúy K, sinh ngày 12/02/2000; Hồ Thị Thanh N, sinh ngày 31/01/2006. Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Ông Hồ Trường S, bà Nguyễn Thị Thúy H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí sơ thẩm: Ông Hồ Trường S phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng; được khấu trừ hết số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà ông S đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Vang theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí 0002516 ngày 05/02/2025.

5. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Huế;
  • - VKSND huyện Phú Vang;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Vang;
  • - UBND xã Phú Diên;
  • (ĐKKH số 50 ngày 27/6/2003);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HSVA;
  • - Lưu án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thúy Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 117/2025/HNGĐ-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, THÀNH PHỐ HUẾ về ly hôn

  • Số bản án: 117/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đơn phương
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger