|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 117/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 08/4/2025
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Chí Cường.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Ngô Thị Thưởng.
2. Bà Lê Thị Thúy Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 362/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết đinh đưa vụ án ra xét xử số 38/2024/QĐST - HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2025 giữa:
1. Nguyên đơn:
Chị Châu Hồng N, sinh năm 2002.
Địa chỉ: 2, ấp T, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Nơi ở hiện nay: ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
2. Bị đơn:
Anh Huỳnh Khắc N1, sinh năm 1996.
Địa chỉ: 2, ấp T, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn, bị đơn vắng mặt và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo khởi kiện, văn bản trình bày ý kiến và đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Châu Hồng N có lời trình bày:
Vào ngày 18/10/2022, chị N và anh Huỳnh Khắc N1 có tiến đến hôn nhân. Hôn nhân do hai bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre vào ngày 18/10/2022. Thời gian đầu sống chung hạnh phúc được 02 năm. Đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do không hợp về lối sống, công việc, không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cự cãi, không thể giải quyết mâu thuẩn được.
Chị N và anh N1 đã sống ly thân 02 tháng sau khi chị N gửi đơn ly hôn và hiện chị N đang sinh sống tại nhà cha mẹ ruột chị N ở địa chỉ ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Nay chị N yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách giải quyết cho chị được ly hôn với anh Huỳnh Khắc N1, chị N không yêu cầu anh N1 cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
Về con chung: Có 01 người con chung là cháu Huỳnh Phúc N2, sinh ngày 27/08/2023, hiện nay cháu N2 đang sống chung với chị N, sau khi ly hôn, chị N yêu cầu được quyền nuôi dưỡng cháu N2 và không yêu cầu anh N1 cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn anh Huỳnh Khắc N1 có lời trình bày.
Anh N1 đã nhận được thông báo thụ lý vụ án và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải của Tòa án.
Về quan hệ hôn nhân: Anh N1 đồng ý ly hôn với chị N, anh không yêu cầu chị N cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn.
Về con chung: Có một người con chung là cháu Huỳnh Phúc N2, sinh ngày 27/08/2023, anh N1 đồng ý để chị N trực tiếp nuôi dưỡng cháu N2, anh N1 không cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung: : Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và nội dung giải quyết vụ án:
Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục tố tụng.
Về nội dung:
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị N cho chị N được ly hôn với anh N1; về con chung đề nghị giao cháu Huỳnh Phúc N2, sinh ngày 27/08/2023, hiện đang sống với chị N cho chị N nuôi và ghi nhận chị N không yêu cầu anh N1 cấp dưỡng cho con; về tài sản chung và nợ chung không có đề nghị không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Về tố tụng:
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm nhưng tự nguyện có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng qui định.
[2]. Về nội dung:
Nguyên đơn và bị đơn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre vào ngày 18/10/2022, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Thời gian đầu sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được khoảng 02 năm, đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do không hợp về lối sống, công việc, không có tiếng nói chung thường xuyên xảy ra cự cãi. Chị N và anh N1 đã sống ly thân 02 tháng sau khi chị N gửi đơn ly hôn và hiện chị N đang sinh sống ở nhà cha mẹ ruột chị N tại địa chỉ ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Anh N1 đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách tuy nhiên anh không đến tham dự và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, trong đơn anh trình bày đồng ý ly hôn và đồng ý với các yêu cầu của chị N.
Từ những phân tích, đánh giá như trên, Hội đồng xét xử nhận định nguyên đơn cương quyết ly hôn còn bị đơn dù biết ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân nhưng bị đơn đã bỏ mặc cho nguyên đơn tự giải quyết, không cùng nguyên đơn có các biện pháp tích cực nhằm cải thiện tình trạng hôn nhân của cả hai để kéo dài mối quan hệ hôn nhân. Như vậy tình trạng hôn nhân của cả hai đã trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, bị đơn tự nguyện đồng ý ly hôn với nguyên đơn vì vậy Hội đồng xét xử cần thiết phải chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn công nhận sự thuận tình ly là phù hợp với quy định tại Điều 51 và 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu cấp dưỡng sau khi ly hôn là do sự tự nguyện của nguyên đơn vì vậy cần ghi nhận.
Về con chung: Có 01 người con chung là cháu Huỳnh Phúc N2, sinh ngày 27/08/2023, hiện nay cháu N2 đang sống chung với chị N, sau khi ly hôn, chị N yêu cầu được quyền nuôi dưỡng cháu N2 và không yêu cầu anh N1 cấp dưỡng cho con. Hội đồng xét xử nhận thấy khi vợ chồng ly hôn, việc giao con cho ai nuôi là phải đảm bảo về mọi mặt cho con chung, đối với nguyên đơn sau khi hai vợ chồng sống ly thân chị N là người trực tiếp nuôi con chung đồng thời bị đơn anh N1 cũng đồng ý giao con chung cho chị N nuôi vì vậy Hội đồng xét xử quyết định giao cháu N2 cho nguyên đơn nuôi dưỡng là phù hợp.
Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng cho con do nguyên đơn tự nguyện không yêu cầu vì vậy Hội đồng xét xử cần ghi nhận.
Về tài sản chung: Hai bên trình bày không có vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.
Về nợ chung: Hai bên trình bày không có vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.
Lời phát biểu của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách tại phiên tòa về hình thức, nội dung vụ án là phù hợp với việc xem xét, đánh giá chứng cứ của Hội đồng xét xử vì vậy được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đồng, nguyên đơn phải có nghĩa vụ chịu nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0005716 ngày 01 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 51, 55, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Cụ thể tuyên:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Châu Hồng N.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Châu Hồng N được ly hôn với anh Huỳnh Khắc N1.
Ghi nhận chị Châu Hồng N, anh Huỳnh Khắc N1 không yêu cầu việc cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau khi ly hôn.
2. Về con chung:
Chị Châu Hồng N có quyền, nghĩa vụ trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Huỳnh Phúc N2, sinh ngày 27/08/2023, hiện nay cháu N2 đang sống chung với chị N.
Ghi nhận chị Châu Hồng N không yêu cầu anh Huỳnh Khắc N1 cấp dưỡng cho con.
Anh Huỳnh Khắc N1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở anh chị thực hiện quyền, nghĩa vụ này tuy nhiên khi người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con chung, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án quyết định việc cấp dưỡng cho con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về tài sản chung: Không có.
4. Về nợ chung: Không có.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Chị Châu Hồng N có nghĩa vụ chịu số tiền 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là là 300.000đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0005716 ngày 01 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Chí Cường |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
|
Đinh Hồ Mỹ Ngọc |
Phạm Gia Ảnh |
Đào Chí Cường |
Bản án số 117/2025/HNGĐ-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 117/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Châu Hồng N -Huỳnh Khác N
