Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 117/2025/DS-PT

Ngày: 12/11/2025

“V/v: Tranh chấp đòi tài sản"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trung Thực.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thúy Hoàn và bà Đỗ Thị Hà.

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thu - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số 111/2025/TLPT - DS ngày 16/10/2025 về việc việc “Tranh chấp đòi tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2025/DS-ST ngày 26/6/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 150/2025/QĐ-PT ngày 28 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Đào Thị S, sinh năm 1960.

Trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên (nay là thôn Đ, xã Đ, tỉnh Hưng Yên).

* Bị đơn: Ông Đặng Văn V, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị V1, sinh năm 1960.

Đều trú tại: Đ, thôn T, xã P, huyện K, tỉnh Hưng Yên (nay là Đ, thôn T, xã Đ, tỉnh Hưng Yên).

Ông Đặng Văn V đã uỷ quyền cho bà Nguyễn Thị V1 tham gia tố tụng tại Toà án theo văn bản uỷ quyền đề ngày 14/4/2025.

(Có mặt bà S, bà V1; vắng mặt ông V)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà Đào Thị S trình bày:

Bà và bà Nguyễn Thị V1 quen biết nhau ngoài xã hội. Trong khoảng thời gian từ năm 2016 đến năm 2017, bà có cho vợ chồng bà V1, ông V vay tiền, số tiền cho vay là của riêng bà không liên quan đến chồng, con bà. Cụ thể:

- Ngày 27/10/2016, bà V1 vay của bà 50.000.000 đồng. Hai bên có viết giấy biên nhận, thời hạn vay 03 tháng, không ghi lãi suất nhưng có thoả thuận miệng lãi suất vay là 1%/tháng, vay không thế chấp tài sản.

- Ngày 25/12/2016, bà V1 vay của bà 60.000.000 đồng. Hai bên có viết giấy biên nhận, thời hạn vay 04 tháng, không ghi lãi suất nhưng có thoả thuận miệng lãi suất vay là 1%/tháng, vay không thế chấp tài sản.

- Ngày 19/10/2016 âm lịch (tức ngày 18/11/2016 dương lịch), bà V1 vay của bà 50.000.000 đồng. Hai bên có viết giấy biên nhận, thời hạn vay 03 tháng, không ghi lãi suất nhưng có thoả thuận miệng lãi suất vay là 1%/tháng, vay không thế chấp tài sản.

- Ngày 03/02/2017, bà V1 vay của bà 50.000.000 đồng. Hai bên có viết giấy biên nhận, thời hạn vay 17 ngày, không ghi lãi suất nhưng có thoả thuận miệng lãi suất vay là 1%/tháng, vay không thế chấp tài sản.

- Ngày 19/02/2017 âm lịch (tức ngày 16/03/2017 dương lịch) bà V1 vay của bà 50.000.000 đồng. Hai bên có viết giấy biên nhận, thời hạn vay 03 tháng, không ghi lãi suất nhưng có thoả thuận miệng lãi suất vay là 1%/tháng, mục đích vay để bà V1 buôn bán, vay không thế chấp tài sản. Trên giấy biên nhận có chữ ký của ông V nhưng do bà Vĩnh K thay.

Toàn bộ các giấy vay tiền trên chỉ do bà Vĩnh V2, ký và nhận tiền, còn ông V có biết việc vay nợ hay không bà không nắm được.

- Ngày 02/10/2016 âm lịch (tức ngày 01/11/2016 dương lịch), bà V1 có nhu cầu và hỏi vay 300.000.000 đồng của bà. Bà thấy số tiền lớn nên bà yêu cầu vợ chồng bà V1 cùng ký nhận. Hai bên có viết Giấy biên nhận, nội dung thể hiện vợ chồng bà V1, ông V vay 300.000.000 đồng, mục đích mua nhà với lãi suất 0%, thời hạn vay 08 tháng, vay không thế chấp tài sản. Ông V là người viết giấy, cùng ký với bà V1 và nhận đủ số tiền 300.000.000 đồng.

Do nhiều lần bà đôn đốc nhưng vợ chồng bà V1 không trả nợ nên bà yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà V1 phải trả bà số tiền gốc là 260.000.000 đồng, còn vợ chồng ông V, bà V1 phải trả bà số tiền gốc là 300.000.000 đồng, bà yêu cầu bà V1, ông V phải trả toàn bộ lãi phát sinh là 1%/tháng kể từ tháng 11/2017 cho đến thời điểm xét xử, thời hạn trả lãi chỉ tính tròn tháng, những ngày lẻ không tính.

Bị đơn bà Nguyễn Thị V1 trình bày:

Bà thừa nhận có vay của bà S 06 lần, với tổng số tiền 560.000.000 đồng (Năm trăm sáu mươi triệu đồng). Các khoản vay đều viết giấy biên nhận, không ghi lãi suất, có thời hạn và không thế chấp tài sản.

Đối với các khoản vay ngày 27/10/2016, số tiền 50.000.000 đồng; ngày 25/12/2016, số tiền 60.000.000 đồng; ngày 19/10/2016 âm lịch (tức ngày 18/11/2016 dương lịch), số tiền 50.000.000 đồng; ngày 03/02/2017, số tiền 50.000.000 đồng; ngày 19/02/2017 âm lịch (tức ngày 16/03/2017 dương lịch) số tiền 50.000.000 đồng, tổng số tiền là 260.000.000 đồng chỉ có mình bà ký, nhận tiền, ông V chồng bà không biết, không liên quan.

Đối với khoản vay ngày 02/10/2016 âm lịch (tức ngày 01/11/2016 dương lịch), số tiền 300.000.000 đồng cả hai vợ chồng bà đều ký nhận bên vay. Mục đích vay mua nhà, lãi suất 0%, thời hạn vay 08 tháng và vay không thế chấp tài sản. Bà S cùng con trai là anh C mang tiền đến nhà cho vợ chồng bà vay. Về việc ông V có ký giấy là để cắm nhà nhằm bảo đảm cho khoản vay. Bà xác định ông V không liên quan và cho rằng bà đã cắm cái quán kinh doanh của vợ chồng bà cho bà S, nhiều lần bà bảo bà S bán đi để trừ tiền cho bà nhưng bà S không lấy mà chỉ lấy tiền lãi mấy chục triệu/tháng của bà.

Bà xác nhận mục đích vay có ghi trên giấy nhận nợ nhưng thực tế là do bà S xúi bà cầm số tiền trên đứng lên cho nhà V, địa chỉ: Đ thôn T, huyện K, tỉnh Hưng Yên vay. Việc thoả thuận bà S đưa tiền cho bà đứng tên cho nhà Vĩnh Q vay không lập thành văn bản mà chỉ thoả thuận bằng miệng. Toàn bộ số tiền 560.000.000 đồng bà vay của bà S với lãi suất 3.000 đồng/triệu/ngày (khoản vay vào dịp tết 2017 bà phải trả 4.000 đồng/triệu/ngày) nhưng cho nhà Vĩnh Q vay lại với lãi suất 2.500 đồng/triệu đồng, thỉnh thoảng bà S có cho bà vài trăm nghìn hoặc 1.000.000 đồng công bà đứng tên cho vay hộ.

Quá trình trả nợ bà đã trả bà S 100.000.000 đồng vào khoảng năm 2017, việc trả nợ không được lập thành văn bản, bà bảo xé giấy nợ thì bà S bảo đang cất ở két sắt trên nhà em trai của bà S ở xã M, huyện K, trời đã tối nên bà không đi lấy được.

Đối với yêu cầu khởi kiện của bà S, bà V1 có quan điểm:

Ban đầu bà không nhất trí số nợ còn lại vì trong vòng 02 năm bà đã phải trả bà S khoảng 30 - 35 triệu đồng/tháng. Bà cũng chỉ còn nợ bà S khoảng 150 - 160 triệu đồng. Bà cam kết một mình bà sẽ trả số tiền này trong vòng 03 năm (trả vào tháng 10/2025, tháng 10/2026 và tháng 10/2027), mỗi năm trả 50 triệu đồng và số tiền lãi trên số nợ gốc 150 - 160 triệu đồng là 6 triệu đồng/năm nhưng sau đó bà V1 không nhất trí trả lãi theo yêu cầu của bà S vì bà cho rằng đã hết thời hạn yêu cầu bà trả lãi theo quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết, bà không xuất trình được các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho lời khai của mình, vì việc thoả thuận giữa bà và bà S cũng như việc bà trả nợ cho bà S đều không lập thành văn bản.

Quá trình giải quyết, bà thừa nhận có vay của bà S 560.000.000 đồng, trong đó vợ chồng bà vay 300.000.000 đồng, còn riêng bà vay 260.000.000 đồng.

Đồng bị đơn ông Đặng Văn V trình bày:

Ông không biết việc vay nợ giữa bà S và bà V1. Sau khi ông được cho xem các Giấy vay tiền giữa bà S và bà V1, ông thừa nhận có ký vào giấy biên nhận ngày 02/10/2016 âm lịch (tức ngày 01/11/2016 dương lịch), nội dung vợ chồng ông vay của bà S số tiền 300.000.000 đồng, còn giấy biên nhận ngày 19/02/2017 không phải chữ ký của ông. Sở dĩ ông có ký vào giấy vay 300.000.000 đồng của bà S là do vợ ông bảo cần tiền làm ăn và phải cắm quán kinh doanh của vợ chồng để làm tin nên ông mới ký, tuy nhiên ông không nhận và không được sử dụng số tiền này.

Bản án sơ thẩm số 08/2025/DS-ST ngày 26/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên) đã quyết định:

Căn cứ: Điều 26; Điều 35, Điều 39; Điều 144; Điều 147; Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 274; Điều 275; khoản 2 Điều 357; Điều 429; Điều 463; Điều 466; Điều 470 Bộ luật dân sự 2015; khoản 1 Điều 37; khoản 3 Điều 45 Luật hôn nhân gia đình 2014; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức nộp án phí, lệ phí Toà án, Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về đòi nợ gốc của bà Đào Thị S.

- Buộc bà Nguyễn Thị V1 phải trả cho bà Đào Thị S số tiền gốc là 260.000.000 đồng (Hai trăm sáu mươi triệu đồng).

- Buộc vợ chồng ông Đặng Văn V và bà Nguyễn Thị V1 phải trả cho bà Đào Thị S số tiền gốc là 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng).

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn đề nghị thi hành án hợp lệ, nếu chậm thanh toán trả các khoản tiền nợ trên thì ông V, bà V1 (đối với khoản nợ 300.000.000 đồng) và bà V1 (đối với khoản nợ 260.000.000 đồng) còn phải chịu lãi suất theo mức quy định tại khoản 2 điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành.

2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện về đòi trả lãi của bà Đào Thị S.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 30/6/2025, bà Nguyễn Thị V1 có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm với lý do việc buộc bà phải trả bà S 560.000.000 đồng là không đúng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị đơn bà V1 trình bày: Tổng số tiền vay của vợ chồng bà đối với bà S 560.000.000 đồng là chính xác. Tuy nhiên, bà đã trả nợ bà S1 và chỉ còn nợ lại khoảng 150 đến 160 triệu đồng.

Nguyên đơn bà Đào Thị S vẫn giữ nguyên yêu khởi kiện và đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Các đương sự không thỏa thuận được về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên phát biểu quan điểm:

Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị V1, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 08/2025/DS-ST ngày 26/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án cũng như thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bà Nguyễn Thị V1 làm trong hạn luật định và hợp lệ nên vụ án được đưa ra xét xử theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Về nội dung, xét yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị V1 thì thấy:

Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, các giấy vay nợ cũng như sự thừa nhận của các bên đương sự. Có đủ cơ sở khẳng định: Việc vay nợ giữa bà S và vợ chồng bà V1 cụ thể như sau:

- Ngày 27/10/2016, bà V1 vay của bà S số tiền 50.000.000 đồng. Hai bên có viết giấy biên nhận, bà V1 ký nhận bên vay, thời hạn vay 03 tháng, vay không lãi suất, không thể hiện mục đích vay và không thế chấp tài sản.

- Ngày 25/12/2016, bà V1 vay của bà S số tiền 60.000.000 đồng. Hai bên có viết giấy biên nhận, bà V1 ký nhận bên vay, thời hạn vay 03 tháng, vay không lãi suất, không thể hiện mục đích vay, không thế chấp tài sản.

- Ngày 19/10/2016 âm lịch (tức ngày 18/11/2016 dương lịch), bà V1 vay của bà S số tiền 50.000.000 đồng. Hai bên có viết giấy vay tiền, bà V1 ký nhận bên vay, thời hạn vay 03 tháng, vay không lãi suất, không thể hiện mục đích vay và không thế chấp tài sản.

- Ngày 03/02/2017, bà V1 vay của bà S số tiền 50.000.000 đồng. Hai bên có viết giấy biên nhận, bà V1 ký nhận bên vay, thời hạn vay 17 ngày, vay không lãi suất, không thể hiện mục đích vay; không thế chấp tài sản.

- Ngày 19/02/2017 âm lịch (tức ngày 16/03/2017 dương lịch), bà V1 vay của bà S số tiền 50.000.000 đồng. Hai bên có viết giấy biên nhận, bà V1 ký nhận bên vay, thời hạn vay 02 tháng, không lãi suất, mục đích vay buôn bán và không thế chấp tài sản.

- Ngày 02/10/2016 âm lịch (tức ngày 01/11/2016 dương lịch), vợ chồng bà V1, ông V vay của bà S số tiền 300.000.000 đồng. Hai bên có viết giấy vay tiền, cả ông V và bà V1 đều ký nhận bên vay, thời hạn vay 08 tháng, vay không lãi suất, mục đích vay mua nhà và không thế chấp tài sản.

Như vậy, tổng cộng nợ chung của hai vợ chồng bà V1 chưa trả bà S là 560.000.000 đồng (trong đó số tiền bà V1 trực tiếp ký nhận nợ là 260.000.000 đồng; số tiền mà cả hai vợ chồng bà V1, ông V ký nhận nợ là 300.000.000 đồng).

Đối với số tiền trên, vợ chồng bà V1 chưa trả bà S nên cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và buộc bà V1 phải trả 260.000.000 đồng; vợ chồng bà V1, ông V phải liên đới trả 300.000.000 đồng cho bà S là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Đối với việc bà V1 cho rằng, đã trả bà S một số tiền và chỉ còn nợ lại khoảng 150 đến 160 triệu đồng nhưng bà V1 không xuất trình được các tài liệu, chứng cứ chứng minh nên không có căn cứ chấp nhận.

Vì vậy không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà V1.

[3]. Về án phí: Bà V1 kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm. Do bà V1 là người cao tuổi có đơn xin miễn án phí hợp lệ nên Hội đồng xét xử quyết định miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà V1.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Vĩnh. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2025/DS-ST ngày 26/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên).

2. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm cho bà Nguyễn Thị Vĩnh.

3. Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - TAND khu vực 3;
  • - THADS tỉnh Hưng Yên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Trung Thực

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Hà

Nguyễn Thị Thúy Hoàn

Phạm Trung Thực

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 117/2025/DS-PT ngày 12/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về tranh chấp đòi tài sản

  • Số bản án: 117/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/11/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger