|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 117/2025/DS-PT Ngày 12-6-2025 V/v tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quản
- Các Thẩm phán: Bà Phạm Phong Lan, bà Nguyễn Thị Thủy Tiên
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Mai Chăm - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 38/2025/TLPT-DS ngày 14/3/2025 về việc “Tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 59/2024/DS-ST ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2025/QĐ-PT ngày 16 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 86/2025/QĐ-PT ngày 28/5/2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1953. Địa chỉ: khu phố D, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
-
Người đại diện theo ủy quyền:
- + Ông Nguyễn Hoàng T1, sinh năm 1992. Địa chỉ: Ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Bến Tre.
- + Ông Đặng Đăng K, sinh năm 1979. Địa chỉ: Số A V, phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Võ Thị Trúc T2, luật sư thuộc Công ty L9, Đoàn luật sư Thành phố H. Địa chỉ: Số A V, phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- - Bị đơn: ông Nguyễn Thanh T3, sinh năm 1945. Địa chỉ: khu phố E, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
-
Những người đại diện theo ủy quyền của bị đơn:
- Ông Nguyễn Thanh T4 - sinh năm 1979. Địa chỉ: khu phố E, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
- Ông Nguyễn Thanh T5 - sinh năm 1981. Địa chỉ: khu phố E, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
- Bà Nguyễn Thị Thanh T6 - sinh năm 1983. Địa chỉ: khu phố E, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
- Ông Nguyễn Thanh T7 - sinh năm 1985. Địa chỉ: khu phố E, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
- Ông Nguyễn Thanh T8 - sinh năm 1993. Địa chỉ: khu phố E, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
(Theo hợp đồng ủy quyền chứng thực ngày 01/2/2023 của Văn phòng C3).
-
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập:
- Bà Nguyễn Thị Ú - sinh năm 1969. Địa chỉ: khu phố A, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
- Ông Phùng Văn N - sinh năm 1961. Địa chỉ: khu phố A, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
- Bà Phùng Thị D - sinh năm 1975. Địa chỉ: khu phố E, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
- Ông Nguyễn H3 - sinh năm 1967. Địa chỉ: thôn V, xã V, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Mỹ D1, sinh năm 1992. Địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện T, tỉnh Bình Thuận. (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 04/6/2025)
- Ông Trần Văn H - sinh năm 1956. Địa chỉ: khu phố D, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
- Bà Nguyễn Thị H1 - sinh năm 1964. Địa chỉ: khu phố A, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa vắng mặt nguyên đơn, bị đơn, ông Nguyễn H3, bà Phùng Thị D.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 25/02/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:
Cha mẹ bà là cụ Nguyễn N1 (sinh năm 1917, chết năm 1994) và cụ Trần Thị S (sinh năm 1920, chết năm 1994).
Cha mẹ bà có tất cả 09 người con, cụ thể như sau:
-
Chị của bà, bà Nguyễn Thị L (sinh năm 1937, chết năm 2018).
Chồng bà L đã chết và có 3 người con: Ông Phùng Văn N - sinh năm 1961, địa chỉ: khu phố A, thị trấn L; Phùng Văn B - sinh năm 1963, địa chỉ: khu phố E, thị trấn L; Phùng Thị D - sinh năm 1980, địa chỉ: khu phố E, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
-
Anh của bà, ông Nguyễn C (sinh năm 1942, chết năm 2017)
Ông C có 04 người con: Nguyễn H3 - sinh năm 1967; Nguyễn B1 - sinh năm 1968; Nguyễn Thị C1 - sinh năm 1969 và Nguyễn D2 - sinh năm 1972, cùng địa chỉ: xóm E, xã V huyện T, tỉnh Bình Thuận.
-
Chị của bà, bà Nguyễn Thị N2 (sinh năm 1942, chết năm 2017)
Chồng bà N2 đã chết, có 6 người con: Trần Văn H - sinh năm 1956, địa chỉ: khu phố D, thị trấn L; Nguyễn Thị H1 – 1964, địa chỉ: khu phố A, thị trấn L; Trần Văn Đ - sinh năm 1966, địa chỉ: khu phố D, thị trấn L; Nguyễn Văn H2 - sinh năm 1968, địa chỉ: khu phố D, thị trấn L; Nguyễn Thị Á – 1975, địa chỉ: khu phố A, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
- Anh của bà, ông Nguyễn Thanh T3 (là người bị kiện)
- Bà là Nguyễn Thị T (là người khởi kiện)
- Em của bà, bà Nguyễn Thị D3 (sinh năm 1958, chết năm 1979), không có chồng con.
-
Em của bà, ông Nguyễn T9 (sinh năm 1966, chết năm 2004)
Có vợ là Lê Thị L1 - sinh năm 1968 và 03 người con: Nguyễn Văn L2 - sinh năm 1987; Nguyễn Thị L3 - sinh năm 1989; Nguyễn Thị L4 - sinh năm 1991, cùng địa chỉ: khu phố D, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
- Em của bà, ông Nguyễn Văn L5 - sinh năm 1968, địa chỉ: xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận.
- Em của bà, bà Nguyễn Thị Ú - sinh năm 1969, địa chỉ: khu phố A, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
Lúc còn sống cha mẹ bà có kế thừa tài sản của ông bà nội của bà để lại là đất nông nghiệp gồm nhiều thửa có tổng diện tích khoảng 50.000 m² tại khu vực Cây me - Bầu bí, thuộc khu phố E, thị trấn L. Đất này đã có sổ bộ của chế độ cũ và có đóng thuế đất nông nghiệp hàng năm, cha mẹ bà trực tiếp canh tác còn chị em bà cùng phụ giúp cha mẹ canh tác sản xuất trên các thửa đất này.
Năm 1994 cha mẹ bà đều chết, không để lại di chúc cho ai các thửa đất này, mà ông T3 và ông T9 là 02 người con trai kế thừa tự quản lý canh tác trên từng thửa đất, không ai được tự ý làm sổ đỏ và bán đất khi chưa có sự đồng thuận của tất cả 09 chị em của bà.
Thế nhưng ông Nguyễn Thanh T3 không làm theo nguyện vọng của cha mẹ bà, mà tự ý đi kê khai cho riêng ông để được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho ông 01 phần diện tích đất, gồm 03 thửa có tổng diện tích là 5.797 m² (thửa số 23 diện tích 1.116 m², thừa số 24 diện tích 3.268 m² và thửa số 31 diện tích 1.413 m²) tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 09/12/1996, toàn bộ diện tích đất này ông T3 đã chuyển nhượng lại cho người khác và phần còn lại ông T3 quản lý sử dụng từ sau khi cha mẹ bà chết (1994) đến nay đã được quy chủ cho ông T3 (theo Trích lục bản đồ địa chính thửa đất số 67, tờ bản đồ địa chính số 10 có diện tích 3.692,4 m² và thửa đất số 71, tờ bản đồ địa chính số 10 có diện tích 4.499,3 m²) chuẩn bị tiếp tục làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bị chị em bà phát hiện và ngăn chặn.
Nay bà yêu cầu ông Nguyễn Thanh T3 phải chia di sản thừa kế thừa đất của cha mẹ bà chết để lại, theo kết quả thẩm định tại chỗ ngày 06/01/2023 có diện tích là 14.098,7 m², chia cho bà 1 kỳ phần bằng 1/9, với diện tích là 1.566,52 m². Đối với các thửa đất khác bà không tranh chấp, ngoài ra bà không có yêu cầu gì khác.
Tại Đơn trình bày ghi ngày 24/11/2020, bị đơn ông Nguyễn Thanh T3 trình bày:
Nguyên trước đây ông sơ của ông là cụ Nguyễn K1 có để lại thừa kế đất cho con là cụ Nguyễn Phàng .1 Cụ P để lại cho cụ Nguyễn C2 (ông nội ông). Trong phần đất chia cho cha của ông là cụ Nguyễn N1 được hưởng gồm 5 miếng đất, có tổng diện tích là khoảng 12.500m² (1,25 ha).
Năm 1980 cha của ông bán đi 01 miếng đất khoảng 2.000m² cho bà Võ Thị Tuyết L6 (60 tuổi) ở tại thị trấn L.
Năm 1988 phần còn lại cha của ông kêu các con lại phân chia tài sản:
- Ông Nguyễn Văn T9 01 miếng khoảng 1.500m²
- Ông Nguyễn Văn L5 01 miếng khoảng 1.500m²
Nhưng ông L5 nhận mà không canh tác để lại cho anh ông là ông T9 canh tác. Ông T9 chết để lại cho con là Nguyễn L7, ông L7 ủi đất bằng xong phân lô bán cho bà Nguyễn Thị Ú 01 lô có diện tích là 140m² (7mx20m)
Sau khi chia xong cha của ông có chia thêm cho 02 cháu nội là Nguyễn H3 và Nguyễn B1 (là con ông Nguyễn C đã chết), nhưng 02 cháu nội không nhận, nên đất này bỏ hoang trên 03 tháng.
Sau đó cha của ông kêu vợ chồng ông lại để giao đất canh tác. Sau đó vợ chồng ông trồng đậu phộng được 45 ngày thì cha của ông dẫn chủ nợ tới đòi xiết đất. Buộc lòng vợ chồng ông phải trả nợ tổng cộng là 66.000 đồng, trả góp trong vòng 03 năm thì mới được canh tác trên phần đất này.
Từ đó vợ chồng ông canh tác đến năm 1993 Luật đất đai ban hành.
Đến năm 1994 thì UBND thị trấn L đi do đạc thực tế. Năm 1996 thì được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông với diện tích là 5.797m², còn lại diện tích đất rừng ông khai hoang phục hóa từ năm 2007 cho đến nay.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Ú thống nhất với nguồn gốc đất tranh chấp như nguyên đơn đã trình bày. Bà cũng đồng ý kiến với bà Nguyễn Thị T, yêu cầu ông Nguyễn Thanh T3 phải chia di sản thừa kế thửa đất của cha mẹ của bà chết để lại theo kết quả thẩm định tại chỗ ngày 06/01/2023 thửa đất có diện tích là 14.098,7m², chia cho bà 1/9 với diện tích là 1.566,52 m².
- Ông Nguyễn Văn N3, bà Phùng Thị D, ông Nguyễn Văn H3, ông Trần Văn H, bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị Á đồng ý kiến với bà Nguyễn Thị Ú, yêu cầu ông Nguyễn Thanh T3 phải chia di sản thừa kế cho mỗi người con của cụ Nguyễn N1, cụ Trần Thị S 1 kỳ phần là 1/9 với diện tích là 1.566,52 m² (những người con được thừa kế lại phần cha mẹ được chia).
- Trong quá trình hòa giải cũng như tại phiên tòa ông Nguyễn Thanh T4, bà Nguyễn Thị Thanh T6, ông Nguyễn Thanh T8, giữ nguyên trình bày của ông Nguyễn Thanh T3 và không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 59/2024/DS-ST ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong đã quyết định:
- Áp dụng: khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147 Bộ Luật tố tụng dân sự; Điều 100, khoản 5 Điều 166 Luật Đất đai năm 2013; Án lệ số: 24/2018/AL; khoản 1 khoản 3 khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, về việc quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy Ban T10.
-
Tuyên xử:
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất” của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ú, ông Phùng Văn N, bà Phùng Thị D, ông Nguyễn H3, ông Trần Văn H, bà Nguyễn Thị H1 đối với ông Nguyễn Thanh T3.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo.
Ngày 25/12/2024, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ú, ông Trần Văn H, bà Nguyễn Thị H1, ông Phùng Văn N, ông Nguyễn H3 kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Người đại diện theo uỷ quyền và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Đề nghị hủy bản án sơ thẩm, về tố tụng cấp sơ thẩm không đưa ông Nguyễn L5 (con của cụ N1, cụ S) và những người cháu của cụ N1, cụ S (khi cha mẹ họ đã chết) vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; không định giá tài sản trên đất làm căn cứ giải quyết vụ án; về nội dung không đủ căn cứ để xác định cụ N1 đã thế chấp đất của cụ cho người khác và gia đình ông T3 phải trả tiền để chuộc đất, vì giấy chuộc đất cả cụ N1 và cụ S đều không ký, cũng không thể hiện rõ diện tích đất là bao nhiêu. Cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào văn bản trả lời của UBND huyện T mà không căn cứ vào tài liệu khác để giải quyết là chưa đủ căn cứ.
- - Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Thống nhất với ý kiến của đại diện nguyên đơn.
- - Bị đơn: Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- - Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Thư ký, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; người tham gia tố tụng chấp hành pháp luật.
- Về nội dung: Cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng vì không xác định đầy đủ người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; cũng chưa thu thập đầy đủ các tài liệu, chứng cứ để làm rõ có việc cụ N1 thế chấp đất và vợ chồng ông T3 phải chuộc lại đất hay không nên phán quyết của cấp sơ thẩm là chưa đủ căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong giải quyết sơ thẩm lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến trình bày tại phiên tòa của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt bà Phùng Thị D nhưng đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà D theo quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn N1 và Trần Thị S là diện tích đất 14.098,7 m². Các đương sự trong vụ án đều thống nhất xác định cụ Nguyễn N1 và Trần Thị S chết năm 1994, 2 cụ sinh được 9 người con gồm: Bà Nguyễn Thị L (chết năm 2018), ông Nguyễn C (chết năm 2017), bà Nguyễn Thị N2 (chết năm 2017), ông Nguyễn Thanh T3, bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị D3 (chết năm 1979), ông Nguyễn T9 (chết năm 2004), ông Nguyễn Văn L5, bà Nguyễn Thị Ú. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, cấp sơ thẩm không đưa ông Nguyễn Văn L5 và những người cháu khác gồm ông Phùng Văn B (con của bà L); ông Nguyễn B1, bà Nguyễn Thị C1, ông Nguyễn D2 (là các con ông Nguyễn C); ông Trần Văn Đ, ông Nguyễn Văn H2 (là các con bà Nguyễn Thị N2); ông Nguyễn Văn L2, bà Nguyễn Thị L3, bà Nguyễn Thị L4 (là các con ông Nguyễn T9) vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là bỏ sót người tham gia tố tụng.
[3] Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, bà Nguyễn Thị Ú, ông Nguyễn Văn H4, bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị Á, ông Nguyễn Văn L8, ông Nguyễn H3, bà Phùng Thị N4, bà Phùng Thị D có đơn yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật. Nội dung yêu cầu của những người này trùng với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cấp sơ thẩm yêu cầu họ phải nộp tạm ứng án phí và xác định họ là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là không đúng, vì yêu cầu này không phải là yêu cầu độc lập. Trường hợp này, chỉ cần xác định họ là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và đơn yêu cầu của họ được xem là ý kiến về vụ án. Nếu xác định họ có yêu cầu độc lập thì phải có thông báo thụ lý yêu cầu độc lập, nhưng cấp sơ thẩm không có thông báo thụ lý yêu cầu độc lập là không đúng. Những vấn đề này tuy không phải là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nhưng Hội đồng xét xử phúc thẩm cũng nêu ra để cấp sơ thẩm rút kinh nghiệm.
[4] Về thu thập tài liệu, chứng cứ:
[4.1] Nguyên đơn yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ N1 và cụ S, trong đó có một phần đất ông T3 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phần còn lại đã quy chủ cho ông T3. Cơ quan có thẩm quyền không cung cấp được hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T3. Do vậy, cần phải xác minh thu thập tài liệu là hồ sơ địa chính tại UBND cấp xã để có căn cứ đánh giá việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T3 có đúng quy định của pháp luật hay không.
[4.2] Bị đơn thừa nhận đối với đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc của cụ N1 và cụ S để lại, cụ N1 đã thế chấp cho cụ Trần Thị N5 để vay tiền, năm 1988, ông T3 đã chuộc lại thửa đất này và phải trả góp cho cụ N5, bị đơn cung cấp tài liệu để chứng minh là bản phô tô giấy nợ thể hiện các nội dung nêu trên. Theo quy định tại khoản 1 Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự thì: “Tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận”. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm không yêu cầu bị đơn nộp bản chính mà chỉ căn cứ vào bản sao để giải quyết là chưa phù với quy định của pháp luật (tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử yêu cầu bị đơn cung cấp bản chính nhưng bị đơn không cung cấp được). Nếu có việc vợ chồng ông T3 chuộc đất cũng cần phải lấy lời khai hoặc đối chất giữa đương sự để làm rõ diện tích đất chuộc lại là bao nhiêu, là tất cả diện tích đất của vợ chồng cụ N1 hay chỉ là phần đất cụ N1 cho cháu nội, tên thường gọi là Hoa A và Hoa E nhưng không nhận, bỏ hoang quá 3 tháng nên cụ N1 giao lại phần đất này cho vợ chồng ông T3 sử dụng; diện tích cụ N1 cho cháu nội là bao nhiêu.
[5] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy, Toà án cấp sơ thẩm đã bỏ sót người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ chưa đầy đủ làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn và những người thừa kế của cụ Nguyễn N1 và Trần Thị S. Đây là những vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng của Toà án cấp sơ thẩm mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Do đó, Hội đồng xét xử huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
[6] Về án phí: Do bản án sơ thẩm bị huỷ nên người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, trả lại cho bà Ú và ông H3 tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp. Án phí dân sự sơ thẩm sẽ được xác định lại khi vụ án được giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoan 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm bà Nguyễn Thị Ú, ông Trần Văn H, bà Nguyễn Thị H1, ông Phùng Văn N, ông Nguyễn H3.
- Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 59/2024/DS-ST ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong. Giao hồ sơ về cho Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong giải quyết sơ thẩm lại.
-
Về án phí:
- - Bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị Ú, ông Trần Văn H, bà Nguyễn Thị H1, ông Phùng Văn N, ông Nguyễn H3 không phải chịu án phí phúc thẩm.
- - Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Ú, ông Nguyễn H3 số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm mỗi người đã nộp là 300.000 đồng lần lượt theo Biên lai số 0007327, 0007326 cùng ngày 07/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (12/6/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Quản |
8
Bản án số 117/2025/DS-PT ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
- Số bản án: 117/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị T - Nguyễn Thanh T3
