Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ LA GI

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 117/2024/HSST

Ngày: 17-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Công Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đinh Thị Mỹ Hằng

2. Ông Phan Vũ Anh Kiệt

Thư ký phiên toà: Bà Lê Như Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Hoàng Kim Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 121/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Công Đ, Sinh năm: 1997, Nơi sinh: Bình Thuận; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Công giáo; Con ông: Nguyễn Văn T (Đã chết) và bà Nguyễn Thị T1; Vợ: Trần Thị Ngọc Á; Có 01 con sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không;

- Nhân thân: Ngày 05/7/2019, bị Công an huyện H xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc (Quyết định số 52/QĐ-XPVPHC); đóng phạt ngày 12/7/2019.

Bị cáo bị bắt ngày 26/7/2024, bị tạm giam cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã L. (Bị cáo có mặt tại phiên toà).

* Bị hại: Lê Văn T2, Sinh năm: 1989, Nơi cư trú: Khu phố A, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ đến vụ án: Nguyễn Mẫu Á1, Sinh năm: 1996, Nơi cư trú: 1 Đ, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền để trả nợ và đánh bạc bên Campuchia nên Nguyễn Công Đ đã nảy sinh ý định thuê xe ô tô tự lái của người khác, sau đó đem đi cầm cố để lấy tiền.

Vào ngày 10/4/2024, Đ đã liên hệ với ông Lê Văn T2 để thuê chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Rush, loại 07 chỗ, biển số 86A - 191.26, với giá 700.000 đồng/ngày, thời hạn thuê từ ngày 10/4/2024 đến ngày 30/4/2024. Khi thuê xe Đ nói dối ông T2 là để chạy dịch vụ cho công ty nhưng thực tế Đ không làm việc cho công ty nào. Sau khi thuê được xe, Đ điều khiển xe đến thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu rồi cầm cố chiếc xe ô tô 86A - 191.26 cho Nguyễn Mẫu Á1 với số tiền 100 triệu đồng.

Số tiền có được, Đ sử dụng để trả nợ cho nhiều người và mang qua Campuchia đánh bạc thua hết. Quá thời hạn cho thuê xe, anh T2 nhiều lần liên lạc với Đ nhưng Đ lấy nhiều lý do để chưa mang xe về trả lại cho anh T2, sau đó tắt điện thoại, chặn liên lạc khiến ông T2 không liên hệ được và bỏ trốn khỏi địa phương.

Do nhiều lần không liên hệ được nên ngày 11/6/2024, ông T2 đến Công an thị xã L trình báo. Qua xác minh, Cơ quan CSĐT Công an thị xã L đã phát hiện chiếc xe đang hoạt động trên địa bàn huyện N, Tp . nên đã tiến hành tạm giữ chiếc xe này từ ông Đặng Hoàng T3 vào ngày 11/6/2024, khi ông T3 đang được ông Á1 cho mượn xe để sử dụng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 68/KL-ĐGTS của Hội đồng ĐGTS trong TTHS UBND thị xã L ngày 14/6/2024 kết luận: 01 (một) xe ô tô hiệu Toyota loại Rush, màu trắng, dung tích 1499, 07 chỗ ngồi, BKS 86A - 191.26 đăng ký lần đầu ngày 10/01/2022, đã qua sử dụng, còn hoạt động; có giá trị là 480.000.000 đồng.

Về vật chứng vụ án: Cơ quan CSĐT Công an thị xã L đã trả lại chiếc xe ô tô hiệu Toyota loại Rush, màu trắng, BKS 86A - 191.26 cho ông Lê Văn T2 vào ngày 17/6/2024.

Về dân sự: Quá trình điều tra ông Lê Văn T2 yêu cầu Đoàn bồi thường số tiền 50.000.000 đồng bao gồm: 5.000.000 đồng Đ mượn ông, 9.000.000 đồng tiền thuê xe từ ngày 10/4/2024 - 30/4/2024; 28.000.000 đồng thiệt hại do không có xe cho khách thuê trong 40 ngày từ ngày 01/5/2024 - 10/6/2024 và 8.000.000 đồng thiệt hại về tinh thần do hành vi phạm tội của Đ gây ra. Ông Nguyễn Mẫu Á1 yêu cầu Đ trả lại số tiền 100.000.000 đồng tiền cầm cố xe ô tô biển số 86A-191.26.

Tại đơn xin xét xử vắng mặt của ông Nguyễn Mẫu Á1, ông Á1 giữ nguyên yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 100.000.000 đồng, ông Lê Văn T2 chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền thuê xe từ ngày 10/4/2024 đến 30/4/2024 là 14.000.000 đồng, ông Á1, ông T2 không có yêu cầu gì khác.

Tại bản cáo trạng số 125/CT –VKSLG-HS ngày 29/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố bị cáo Nguyễn Công Đ, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Công Đ và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng: Điểm a Khoản 3 Điều 174; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Phạt: Bị cáo Nguyễn Công Đ, mức án từ 09 từ đến 10 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý trả lại số tiền như ông T2, ông Á1 yêu cầu. Đề nghị HĐXX buộc bị cáo Nguyễn Công Đ phải có trách nhiệm bồi thường cho ông Lê Văn T2 số tiền là 14.000.000 đồng. Buộc bị cáo Nguyễn Công Đ phải có trách nhiệm hoàn trả cho ông Nguyễn Mẫu Á1 số tiền là 100.000.000 đồng.

Bị cáo Nguyễn Công Đ khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra và thừa nhận cáo trạng của VKSND thị xã La Gi truy tố là hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

Bị cáo không có ý kiến cũng như tranh luận gì đối với quan điểm của đại diện VKSND thị xã La Gi.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thấy được hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập, phản ánh trong hồ sơ vụ án và thông qua kết quả tranh tụng tại phiên tòa, có đủ căn cứ để kết luận: Do cần tiền để trả nợ và đánh bạc nên Nguyễn Công Đ đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác. Cụ thể vào ngày 10/4/2024, tại khu phố A, phường T, thị xã L Đoàn nói dối với ông Lê Văn T2 thuê chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Rush, loại 07 chỗ, biển số 86A - 191.26, với giá 700.000 đồng/ngày, thời hạn thuê từ ngày 10/4/2024 đến ngày 30/4/2024 để chạy dịch vụ cho công ty nhưng thực tế Đ không làm việc cho công ty nào mà sau khi thuê được xe, Đ điều khiển xe đến thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để cầm cố cho Nguyễn Mẫu Á1 với số tiền 100 triệu đồng. Do không có khả năng trả lại xe nên Đ chặn liên lạc, bỏ trốn khỏi địa phương.

Bằng thủ đoạn gian dối bị cáo Nguyễn Công Đ đã chiếm đoạt tài sản là chiếc xe ô tô biển số 86A - 191.26 của ông Lê Văn T2 có giá trị 480.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, để nhận thức rõ việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, bị nghiêm cấm, nhưng với bản tính tham lam, chây lười lao động, để có tiền tiêu xài cá nhân bị cáo đã gian dối chiếm đoạt tài sản của bị hại như đã nêu trên. Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý, gây nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự xem thường pháp luật, xâm phạm trực tiếp quyền sở hữu tài sản của người khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý mất an toàn trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Xét thấy, cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe giáo dục bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, bị cáo lần đầu phạm tội. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra đã giải quyết xong, nên Hội đồng xét xử không xét.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Ông Lê Văn T2 yêu cầu Đ bồi thường số tiền 14.000.000 đồng tiền thuê xe từ ngày 10/4/2024 - 30/4/2024. Ông Nguyễn Mẫu Á1 yêu cầu Đ trả lại số tiền 100.000.000 đồng tiền cầm cố xe ô tô biển số 86A-191.26.

Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý trả lại số tiền như ông T2, ông Á1 yêu cầu. HĐXX xét thấy việc thỏa thuận này hoàn toàn tự nguyện, không trái với quy định pháp luật nên ghi nhận.

Đối với hành vi cầm cố chiếc xe ô tô Toyota Rush, biển số 86A-191.26 của ông Nguyễn Mẫu Á1. Quá trình điều tra xác định khi cầm xe Á1 không biết đây là tài sản do Đ phạm tội mà có nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã L không xử lý hình sự là có căn cứ.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào:

  • - Điểm a Khoản 3 Điều 174; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự;
  • - Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
  • - Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[2] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Công Đ phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

[3] Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Công Đ 09 (Chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/7/2024.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo Nguyễn Công Đ phải có trách nhiệm bồi thường cho ông Lê Văn T2 số tiền là 14.000.000 (Mười bốn triệu) đồng.

Buộc bị cáo Nguyễn Công Đ phải có trách nhiệm hoàn trả cho ông Nguyễn Mẫu Á1 số tiền là 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

[5] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Công Đ phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 5.700.000 (Năm triệu, bảy trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[6] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đối với Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung.

* Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - CA tỉnh Bình Thuận;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND thị xã La Gi;
  • - Chi cục THADS thị xã La Gi;
  • - Công an thị xã La Gi;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS - Lưu Tòa án;
  • - UBND địa phương nơi BC cư trú.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Công Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 117/2024/HSST ngày 17/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 117/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Công Đ phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger