|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số: 117/2024/HSST Ngày 10 - 9 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quốc Huy.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Cửu Hưng;
- Ông Trần Đình Khương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Trần Công Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị (Địa chỉ: Số D-L, thành phố Đ), Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 110/2024/TLST-HS ngày 08/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 119/2024/QĐXXST-HS ngày 27/8/2024, đối với bị cáo:
Lê Tự Quang T
(Tên gọi khác: G), sinh ngày 12/11/1992, tại: Tỉnh Quảng Trị; Nơi cư trú: Khu phố T, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Tự G1, sinh năm 1963 và bà Thái Thị S, sinh năm 1970; Gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ 02; Vợ, con: chưa có.
* Tiền án: Có 03 (ba) tiền án, cụ thể:
- Ngày 10/10/2018, Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, xử phạt, Lê Tự Quang T: 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 09/3/2020, T chấp hành xong hình phạt tù (Bản án số 67/2018/HS-ST).
- Ngày 30/11/2021, Tòa án nhân dân huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, xử phạt, Lê Tự Quang T: 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 34/2021/HS-ST).
- Ngày 15/11/2021, Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, xử phạt, Lê Tự Quang T: 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 16/4/2023, T chấp hành xong hình phạt tù (Bản án số 145/2021/HSST - Tại Bản án này đã xác định: Thái phạm tội thuộc trường hợp “Tái phạm").
* Nhân thân:
- Ngày 27/9/2012, Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, xử phạt, Lê Tự Quang T: 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Ngày 08/6/2021, Công an phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, xử phạt hành chính 1.500.000 đồng, đối với: Lê Tự Quang T về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
* Tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 17/3/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay; hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ, có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Đình H; địa chỉ: Khu phố A, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt tại phiên tòa (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Anh Trần Minh T1; địa chỉ: Khu phố C, Phường A, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị (Hiện đang bị tạm giam trong vụ án khác). Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
(1) Ngày 16/3/2024, Lê Tự Quang T (T) đi bộ đến khu vực đường N, thành phố Đ, tìm gặp nam thanh niên tên C (không rõ lai lịch, địa chỉ) mua được 3.000.000 đồng ma túy Heroin. Ma túy mua được, T đưa về cất giấu trong 01 (Một) hộp nhựa để trên đầu giường trong phòng ngủ của T (Bên trong hộp đã có sẵn 02 gói giấy bạc và 01 gói giấy kẻ ô ly, đều chứa ma túy), với mục đích: Sử dụng và bán lại cho người khác kiếm lời.
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 17/3/2024, T lấy một ít ma túy trong hộp nhựa ra sử dụng, số ma túy còn lại T chia thành 07 phần (06 phần, gói bằng giấy kẻ ô ly, 01 phần cho vào 01 túi ni long), rồi cho vào hộp nhựa và cất giấu ở túi quần bên trái đang mặc trên người.
Từ khoảng 10 giờ đến 13 giờ ngày 17/3/2024, tại nhà của T ở địa chỉ Khu phố T, Phường A, thành phố Đ, T đã 02 lần bán số ma túy trên cho người khác để kiếm lời, cụ thể:
- Khoảng 10 giờ, Nguyễn Đình H (H); trú tại Khu phố A, Phường E, thành phố Đ đến nhà T hỏi mua 200.000 đồng ma túy, T nhận tiền từ H rồi đưa cho H 01 gói giấy kẻ ô ly bên trong có chứa ma túy.
- Khoảng 13 giờ, Trần Minh T1 (T1); trú tại Khu phố C, Phường A, thị xã Q, đến nhà T hỏi mua 400.000 đồng ma túy, T nhận tiền từ T1 rồi đưa cho T1 02 gói giấy màu bạc bên trong có chứa ma túy.
Vào lúc 14 giờ 50 phút cùng ngày, Công an thành phố Đ đã tiến hành kiểm tra, phát hiện, thu giữ tại túi quần bên trái của T: 01 gói ni long trong suốt và 06 gói giấy loại giấy vở kẻ ô ly, bên trong có chứa cục, hạt bột màu trắng.
(1.1) Hành vi cất giấu ma túy, đối với Nguyễn Đình H: Vào khoảng 10 giờ ngày 17/3/2024, tại Kiệt A T, Khu phố T, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã kiểm tra phát hiện và thu giữ trong người H được 01 gói giấy vở kẻ ô ly màu trắng, bên trong gói giấy chứa nhiều cục, hạt, bột màu trắng (nghi là ma túy).
(1.2) Hành vi cất giấu ma túy, đối với Trần Minh T1: Vào hồi 13 giờ ngày 17/3/2024, tại Kiệt A T, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ, bắt người phạm tội quả tang, đối với T1, thu giữ trong người Thành 02 gói giấy màu bạc, bên trong chứa cục dạng bột màu trắng (Nghi là ma túy).
(2) Vật chứng thu giữ:
(2.1) Thu giữ của T:
- 06 gói giấy loại giấy vở kẻ ô ly, bên trong mỗi gói chứa nhiều cục, hạt bột màu trắng;
- 01 gói ni long, bên ngoài được quấn 01 sợi dây thun, bên trong có chứa cục, hạt bột màu trắng;
- 01 điện thoại di động hiệu Masstel, gắn 02 (Hai) SIM thuê bao;
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S;
- 01 gói ni long, 01 hộp nhựa và 600.000 VNĐ.
2.2 Thu giữ của T1: 02 gói giấy màu bạc, bên trong chứa cục dạng bột màu trắng.
2.3 Thu giữ của H: 01 gói giấy vở kẻ ô ly, bên trong chứa nhiều cục, hạt, bột màu trắng.
(3) Xét nghiệm chất ma túy, đối với T: Kết quả: Thái dương tính với ma túy Heroin.
(4) Kết quả giám định:
4.1 Vật chứng thu giữ của T: Kết luận giám định số 411/KL-KTHS ngày 26/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q, xác định: Chất rắn màu trắng gửi đến giám định, là: Ma túy loại Heroin, có khối lượng 2,1312 gam.
4.2 Vật chứng thu giữ của T1: Kết luận giám định số 402/KL-KTHS ngày 22/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q, xác định: Chất rắn màu trắng gửi đến giám định, là: Ma túy loại Heroin, có khối lượng 0,1984 gam.
4.3 Vật chứng thu giữ của H: Kết luận giám định số 403/KL-KTHS ngày 22/3/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q, xác định: Chất rắn màu trắng gửi đến giám định, là: Ma túy loại Heroin, có khối lượng 0,0982 gam.
(5) Truy tố:
Cáo trạng số 113/CT-VKS-ĐH ngày 06/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
(6) Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Lê Tự Quang T, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm b, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Tự Quang T từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: Ma túy, bao bì hoàn lại sau giám định; 06 mảnh giấy; 01 hộp, 02 gói ni long và 01 dây thun.
Trả lại cho T: 02 điện thoại di động nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước nhà nước 600.000 đồng.
Áp dụng khoản 2, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[I] Tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Thấy, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[II] Nội dung vụ án:
(1) Tại phiên tòa, bị cáo Lê Tự Quang T đã khai nhận toàn bộ hành vi mua bán chất ma túy mà bị cáo đã thực hiện vào ngày 16 và 17/3/2024 như nội dung Cáo trạng số 113/CT-VKS-ĐH ngày 06/8/2024 của Viện kiểm sát, truy tố bị cáo. Lời khai nhận tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, đồng thời phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, đó là: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản thu giữ đồ vật; Kết luận giám định đối với đồ vật thu giữ, lời khai của người làm chứng.
Như vậy, có đủ cơ sở, kết luận: Lê Tự Quang T đã bị kết án 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết tăng nặng “Tái phạm” (Bản án hình sự sơ thẩm số 145/2021/HSST ngày 15/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà), chưa được xóa án tích nhưng ngày 17/3/2024, tại nhà của T, ở địa chỉ Khu phố T, Phường A, thành phố Đ, T đã 02 lần bán ma túy cho người khác, với tổng khối lượng 0,2966 gam để kiếm lời, cụ thể:
- Khoảng 10 giờ ngày 17/3/2024, T bán cho H: 0,0982 gam ma túy loại Heroin;
- Khoảng 13 giờ ngày 17/3/2024, T bán cho T1: 0,1984 gam ma túy loại Heroin.
Ngoài ra, T còn cất giữ 2,1312 gam ma túy loại Heroin, với mục đích bán cho người khác để kiếm lời, việc T chưa kịp bán thì bị bắt quả tang là ngoài ý thức chủ quan của T.
Như vậy, hành vi nêu trên của bị cáo Lê Tự Quang T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không chỉ trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lí của nhà nước về việc sử dụng chất ma túy với mục đích chữa bệnh mà còn xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội nên phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng, ngừa tội phạm.
(2) Xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong vụ án này, Hội đồng xét xử thấy:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội nên phải áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và tội phạm mà bị cáo gây ra trong vụ án này. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng và có nhân thân xấu nên cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là cần thiết.
Thời gian bị cáo bị bắt tạm giữ sau đó chuyển tạm giam được tính vào thời hạn chấp hành án; Để đảm bảo thi hành án cần tạm giam bị cáo 45 ngày.
(3) Hành vi bán ma túy cho T của nam thanh niên tên “Cu” và hành vi “Tàng trữ trái phép ma túy” (Có nguồn gốc mua từ T) của T1 và H, thấy:
Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp nghiệp vụ nhưng không xác định được nam thanh niên tên C nên không xem xét.
Đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (Có nguồn gốc mua từ T) của T1 đã được giải quyết trong vụ án khác nên không xem xét.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã ra Quyết xử lý hành chính đối với H về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, là có căn cứ.
(4) Về vật chứng:
- Ma túy, bao bì hoàn lại sau giám định-là vật cấm lưu hành; 06 mảnh giấy, 01 hộp nhựa, 02 gói ni lông và 01 dây thun không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Khoản tiền 600.000 đồng: Bị cáo T có được từ việc bán ma túy cho T1 và H- là thu nhập bất chính nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- 02 điện thoại di động đều thuộc quyền sở hữu của T, không liên quan đến vụ án này nên trả lại cho T nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Vật chứng thu giữ của T1 và H đã được giải quyết nên không xem xét.
[III] Về án phí:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo: Lê Tự Quang T (Tên gọi khác: G), phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Áp dụng điểm b, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:
Lê Tự Quang T: 08 (T2) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ sau đó chuyển tạm giam là ngày 17/3/2024.
2. Về vật chứng:
Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự
2.1 Tịch thu tiêu hủy:
- Toàn bộ ma túy, bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì, Ký hiệu NS4A 178584 bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q.
- 06 mảnh giấy loại có kẻ ô ly, kích thước 5cm x 5,5 cm; 01 gói ni long trong suốt có kích thước 6,5cm x 6 cm, trên miệng túi có đường kẻ sọc màu đỏ; 01 hộp nhựa hình trụ tròn, màu xanh (trên bề mặt có các dòng chữ màu trắng), có chiều cao 3 cm, đường kính 3,8 cm; 01 gói ni long trong suốt có kích thước 7cm x 5cm; 01 sợi dây thun màu vàng.
2.2 Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 600.000 đồng (Sáu trăm ngàn đồng chẳn).
2.3 Trả lại cho Lê Tự Quang T:
01 (một) điện thoại di động hiệu Masstel, màu cam, gắn 02 sim, số I: 355000115434269. Và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S, màu xám, không gắn sim, số Imei: 359487080707058 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/9/2024).
3. Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lê Tự Quang T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng chẳn) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quốc Huy |
Bản án số 117/2024/HSST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ về hình sự: mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 117/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
