Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 117/2024/HS-ST

Ngày: 31 - 10 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đào Văn Kiểm

2. Ông Nguyễn Duy Tính

Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Trung Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Hạnh - Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa.

Ngày 31 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 111/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 và theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 123/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị D - sinh ngày 17 tháng 6 năm 1969 tại thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Nơi ĐKHKTT: Tổ H, phố B, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ và chỗ ở hiện nay: Tổ F, phố B, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Duy C (đã chết) và bà Nguyễn Thị C1 (đã chết); bị cáo có chồng là Nguyễn Minh N, sinh năm 1971 và chưa có con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 39/2007/HSST ngày 28/9/2007 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây (cũ), nay là thành phố Hà Nội xử phạt Nguyễn Thị D 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án về tội đánh bạc (số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng); phạt bổ sung 3.000.000 đồng và 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. D đã chấp hành xong hình phạt tù cho hưởng án treo vào tháng 6/2010, nộp xong án phí ngày 28/02/2008, nộp 260.000 đồng tiền phạt bổ sung vào ngày 18/02/2014, số tiền còn lại D được đình chỉ thi hành án. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 12/6/2024, chuyển tạm giam ngày 18/6/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 21 giờ 00 phút ngày 12/6/2024, tại khu công nghiệp B thuộc tổ A, khu M, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, tổ công tác Công an thành phố Việt Trì phát hiện, kiểm tra một người phụ nữ có biểu hiện vi phạm pháp luật. Người này tự khai họ tên là Nguyễn Thị D. Quá trình kiểm tra, D tự giác lấy từ trong túi quần bên phải phía trước đang mặc ra giao nộp 01 gói nilon mặt ngoài màu đen mặt trong màu xám, bên trong có 02 túi nilon đều màu trắng một đầu có khuy bấm viền màu đỏ, trong đó: 01 túi bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng, 01 túi bên trong có chứa 13 viên dạng nén hình tròn màu hồng một mặt có in chữ “WY” và khai nhận đây là 02 túi ma tuý hồng phiến và ma tuý đá của D mục đích để bán với giá 6.500.000 đồng/túi ma tuý đá và 100.000 đồng/1 viên ma tuý hồng phiến. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong thu giữ 02 túi ma túy trên. Ngoài ra còn tạm giữ của D: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen đã cũ, số imei trong nguồn 359471080870595 kèm sim số 0964.660.966. Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra ma tuý bằng que thử nước tiểu đối với D, kết quả dương tính với chất ma tuý.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra ra lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của D tại tổ F, phố B, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Quá trình khám xét, Cơ quan điều tra thu giữ 01 túi nilon màu trắng một đầu có khuy bấm viền màu đỏ bên trong có 09 gói giấy trong đó có 01 gói mặt ngoài và mặt trong màu trắng có dòng kẻ, chữ viết và 08 gói mặt ngoài và mặt trong màu trắng có dòng kẻ, bên trong cả 09 gói đều chứa chất bột cục màu trắng.

Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định số chất rắn dạng tinh thể màu trắng, 13 viên dạng nén hình tròn màu hồng một mặt có in chữ WY và số chất bột cục màu trắng thu giữ của Nguyễn Thị D. Tại Bản kết luận giám định số 832/KL-KTHS ngày 14/6/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P kết luận:

“-Chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa bên trong 01 túi nilon, niêm phong trong bì giấy ghi vật chứng thu giữ khi bắt quả tang của Nguyễn Thị D gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng là 9,888 gam, loại: Methamphetamine.

- 13 viên nén hình tròn màu hồng, trên một mặt mỗi viên nén đều in chữ “WY” chứa trên trong 01 túi nilon, niêm phong trong bì giấy ghi vật chứng thu giữ khi bắt quả tang của Nguyễn Thị D gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng là 1,404 gam, loại Methamphetamine.

Methamphentamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, số thứ tự: 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

-Chất bột, cục màu trắng chứa bên trong 09 gói giấy, được niêm phong trong bì giấy ghi vật chứng thu giữ khi khám xét khẩn cấp của Nguyễn Thị D, gửi đến giám định là ma tuý; có khối lượng là 4,233 gam, loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất”.

Hoàn trả lại 8,673 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng, 1,078 gam viên dạng nén màu hồng và 3,701 gam chất bột cục màu trắng là mẫu vật còn lại sau khi giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định.

Quá trình điều tra, Nguyễn Thị D tự khai nhận ngoài số ma tuý Cơ quan điều tra thu giữ khi bắt quả tang và khám xét khẩn cấp nơi ở của D mục đích để bán thì D đã 01 lần bán trái phép chất ma tuý cho Ngô Anh T, sinh năm 1977, HKTT: Tổ A, phố Đ, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ khi bắt quả tang, khám xét khẩn cấp và bán cho T, D khai nhận: Khoảng 20 giờ ngày 08/6/2024, D đi bộ ra khu vực bờ đê xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc mục đích để tìm mua ma tuý. Tại đây, D gặp và hỏi mua của một người phụ nữ tên L, khoảng 50 tuổi (D không biết rõ họ tên, địa chỉ ở đâu) được 01 gói ma tuý Heroin được gói bằng mảnh giấy mặt ngoài và mặt trong đều màu trắng có dòng kẻ và chữ viết, bên trong có chứa chất bột cục màu trắng với giá 2.000.000 đồng. Sau đó, D cầm gói ma túy đi về nhà, D mở gói ma tuý, tách một phần chia thành 09 gói ma tuý nhỏ đều được gói bằng giấy có mặt ngoài và mặt trong màu trắng có dòng kẻ, phần còn lại Dung gói lại như cũ và cất giấu ở nhà D. Đến khoảng 18 giờ 30 phút ngày 11/6/2024, Ngô Anh T đến nhà D ở tổ F, phố B, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ hỏi mua 300.000 đồng tiền ma tuý Heroine. D đồng ý và đưa cho T 01 gói ma tuý Heroine được gói bằng giấy mặt ngoài và mặt trong màu trắng có dòng kẻ. Số ma tuý này, T đã sử dụng hết cho bản thân, số tiền bán ma tuý D đã chi tiêu cá nhân hết. Và vào khoảng 20 giờ ngày 12/6/2024, D đi bộ từ nhà ra khu vực bờ đê thuộc xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc mục đích để tìm mua ma tuý. Tại đây, D gặp và hỏi mua của L được 01 túi nilon mặt ngoài màu đen mặt trong màu xám, bên trong có 02 túi nilon màu trắng một đầu có khuy bấm viền màu đỏ, trong đó có 01 túi bên trong có chứa 13 viên dạng nén hình tròn màu hồng một mặt có in chữ WY là 13 viên ma tuý hồng phiến với giá 1.000.000 đồng và 01 túi bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng là ma tuý đá với giá 5.000.000 đồng. Sau đó, D cất túi ma tuý vừa mua được vào túi quần bên phải phía trước đang mặc và đi về khu công nghiệp B thuộc tổ A, khu M, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ mục đích để chờ có ai hỏi mua thì bán với giá 100.000 đồng/1 viên ma tuý hồng phiến và 6.500.000 đồng túi ma tuý đá. Khi D đứng được một lúc thì có Tổ công tác Công an thành phố V phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Quá trình điều tra, D còn khai nhận đêm ngày 10/6/2024, D đi bộ ra khu công nghiệp B thuộc phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ mục đích tìm mua ma túy đá sử dụng cho bản thân. Tại đây, D gặp một người đàn ông không quen biết, D hỏi và mua được của người này 01 gói ma túy đá với giá 300.000 đồng. Số ma túy này D đã sử dụng hết cho bản thân. Nên ngày 29/6/2024, Công an thành phố V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với D về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, hình thức phạt cảnh cáo.

Đối với Ngô Anh T là người mua ma túy của D, số ma túy trên T đã sử dụng hết cho bản thân nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác định khối lượng ma túy T đã mua của D. Ngày 30/8/2024, Công an thành phố V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, hình thức phạt cảnh cáo.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho D ngày 10/6/2024 ở khu vực khu công nghiệp B thuộc phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, ngoài lời khai của D, không có tài liệu nào khác để chứng minh. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ xác định người đàn ông như D đã khai.

Đối với người phụ nữ tên L đã bán ma túy cho D ngày 08/6/2024 và ngày 12/6/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc nhưng không có người phụ nữ tên L có đặc điểm như D khai. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ xác định người phụ nữ tên L như D đã khai và nguồn gốc số ma túy của D.

Ngày 17/6/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Thị D về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 2 điều 251 Bộ luật hình sự và ra Lệnh tạm giam đối với bị can.

Cáo trạng số 113/CT-VKS-VT ngày 03/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì truy tố bị can Nguyễn Thị D về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị D khai nhận như sau: Cáo trạng truy tố hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo thực hiện. Bị cáo cất giữ ma tuý trên người ngày 12/6/2024 và cất giữ ma tuý ở nhà nhằm mục đích ai hỏi mua để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân thì bị Công an kiểm tra, khám xét thu giữ. Bị cáo không biết họ tên đầy đủ, địa chỉ của người đàn ông và người phụ nữ tên L bán ma tuý cho bị cáo và cũng không có tài liệu, chứng cứ gì, không ai biết việc bị cáo mua ma tuý của người đàn ông và người phụ nữ tên L đó. Bị cáo còn tự khai nhận hành vi bán trái phép ma tuý cho anh T 01 gói ma tuý với giá 300.000 đồng vào ngày 11/6/2024. Chiếc điện thoại di động bị thu giữ là điện thoại của bị cáo dùng liên lạc cá nhân, không liên quan đến hành vi phạm tội. Bị cáo lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản có giá trị.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì giữ quyền công tố giữ nguyên cáo trạng truy tố, trình bày bản luận tội, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị D phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý".

Áp dụng điểm p khoản 2, khoản 5 điều 251; điểm r, s khoản 1 điều 51; điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Thị D từ 8 năm 6 tháng tù đến 9 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 12/6/2024.

Hình phạt bổ sung: Tịch thu của bị cáo Nguyễn Thị D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen đã cũ, số imei trong nguồn 359471080870595 để nộp ngân sách nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu của bị cáo Nguyễn Thị D 8,673 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng; 1,078 gam viên dạng nén màu hồng đều là ma túy Methamphetamine và 3,701 gam chất bột cục màu trắng là ma túy Heroine cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được để trong 01 bì niêm phong số 832/KL-KTHS ngày 14/6/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P và 01 thẻ sim có số thuê bao 0964.660.966 để tiêu hủy;

Truy thu của bị cáo Nguyễn Thị D số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Thị D phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng hình phạt nhẹ nhất để sớm trở về với gia đinh và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định:

Ngày 11/6/2024, tại nhà ở của bị cáo D thuộc tổ F, phố B, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, bị cáo có hành vi bán trái phép chất ma túy Heroine không xác định được khối lượng cho Ngô Anh T, thu lời số tiền 300.000 đồng. Số ma túy này T đã sử dụng hết, số tiền bán ma túy D đã chi tiêu cá nhân hết.

Hồi 21 giờ 00 phút ngày 12/6/2024, tại khu vực gần khu công nghiệp B thuộc tổ A, khu M, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Nguyễn Thị D có hành vi tàng trữ trái phép 9,888 gam ma túy Methamphetamine (chất rắn dạng tinh thể màu trắng), 1,404 gam ma tuý Methamphetamine (viên nén hình tròn màu hồng) có tổng khối lượng 11,292 gam ma túy Methamphetamine mục đích để bán thì bị tổ công tác Công an thành phố V bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Ngoài ra, Nguyễn Thị D còn tàng trữ trái phép khối lượng là 4,233 gam ma túy Heroine mục đích để bán thì bị Cơ quan điều tra thu giữ khi khám xét khẩn cấp tại chỗ ở của D thuộc tổ F, phố B, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người chứng kiến, người làm chứng, phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án, kết luận trưng cầu giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Khối lượng ma túy mà D tàng trữ trái phép để bán là 11,292 gam ma túy Methamphetamine và 4,233 gam ma tuý Heroine. Căn cứ Điều 4 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ quy định về việc tính tổng khối lượng chất ma tuý thì tổng khối lượng ma túy Methamphetamine và khối lượng ma túy Heroine là 11,292 gam + 4,233 gam = 15,525 gam ma túy. Do đó, Nguyễn Thị D phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ trái phép 15,525 gam ma túy với mục đích để bán và 01 lần bán trái phép chất ma túy không xác định được khối lượng cho Ngô Anh T, thu lời số tiền 300.000 đồng.

Do tổng khối lượng ma túy H và ma túy Methamphetamine của D tàng trữ để bán được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự nên D phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Bị cáo Nguyễn Thị D phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm p khoản 2 điều 251 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì truy tố bị cáo về tội danh cũng như điều luật là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:

“1.Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: ...

p) Có 02 chất ma tuý trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này...”.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của bị cáo và anh Ngô Anh T, Công an thành phố V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, hình thức phạt: Cảnh cáo là phù hợp.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho D ngày 10/6/2024 ở khu vực khu công nghiệp B thuộc phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, ngoài lời khai của D, không có tài liệu nào khác để chứng minh. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ xác định người đàn ông như D đã khai nên không xử lý là phù hợp.

Đối với người phụ nữ tên L đã bán ma túy cho D ngày 08/6/2024 và ngày 12/6/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc nhưng không có người phụ nữ tên L có đặc điểm như D khai. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ xác định người phụ nữ tên L như D đã khai và nguồn gốc số ma túy của D nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.

[3]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước được pháp luật hình sự bảo vệ nên cần phải được xử lý nghiêm. Bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục có hành vi mua bán trái phép chất ma tuý nhằm thu lợi bất chính, chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật nên phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo gây ra. Hội đồng xét xử thấy rằng cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội. Song khi quyết định hình phạt cần xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự khai ra hành vi bán trái phép chất ma tuý cho anh Ngô Anh T1 khi chưa bị phát hiện nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì hình phạt áp dụng đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì là phù hợp.

[4]. Về hình phạt bổ sung:

Tại khoản 5 điều 251 của Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy, bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập thấp, bị cáo có tài sản là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen đã cũ, số IMEI trong nguồn 359471080870595 đang bị tạm giữ không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là tịch thu đối với chiếc điện thoại trên để nộp ngân sách nhà nước là phù hợp thực tế và quy định của pháp luật.

[5]. Về vật chứng và tài sản tạm giữ:

Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V thu giữ và chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì gồm:

Đối với 01 bì niêm phong số 832/KL-KTHS ngày 14/6/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P bên trong có chứa 8,673 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng; 1,078 gam viên dạng nén màu hồng và 3,701 gam chất bột cục màu trắng là ma túy Methamphetamine và ma túy Heroine của D mục đích để bán là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu để tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen đã cũ, số IMEI trong nguồn 359471080870595 kèm sim số 0964.660.966 là điện thoại của D sử dụng để liên lạc hàng ngày không liên quan đến tội phạm, là tài sản của bị cáo đã bị áp dụng hình phạt bổ sung tịch thu điện thoại, còn thẻ sim không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy.

Đối với số tiền 300.000 đồng bị cáo bán ma tuý cho anh Ngô Anh T ngày 11/6/2024 bị cáo đã chi tiêu cá nhân hết, đây là tiền do phạm tội mà có nên cần truy thu số tiền trên để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

[6]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì là phù hợp nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm p khoản 2, khoản 5 điều 251; điểm r, s khoản 1 điều 51; khoản 1 điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị D phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”;

Phạt Nguyễn Thị D 09 (C2) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 12/6/2024.

Hình phạt bổ sung: Tịch thu của bị cáo Nguyễn Thị D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen đã cũ, số IMEI trong nguồn 359471080870595 theo biên bản giao nhận vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ ngày 04/10/2024 để nộp ngân sách Nhà nước.

Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Căn cứ điểm b, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu của bị cáo Nguyễn Thị D 8,673 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng; 1,078 gam viên dạng nén màu hồng đều là ma túy Methamphetamine và 3,701 gam chất bột cục màu trắng là ma túy Heroine cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được để trong 01 bì niêm phong số 832/KL-KTHS ngày 14/6/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P và 01 thẻ sim có số thuê bao 0964.660.966 để tiêu hủy. (Có tình trạng, đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ ngày 04/10/2024).

Truy thu của bị cáo Nguyễn Thị D số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Thị D phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ điều 331 và khoản 1 điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Việt Trì;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TP. Việt Trì;
  • - Bị cáo;
  • - Trại tạm giam;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ;
  • - Chi cục THADS TP. Việt Trì;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Hà Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 117/2024/HS-ST ngày 31/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ về mua bán trái phép chất ma tuý (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 117/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Dung phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma tuý"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger