Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 117/2024/HS-PT

Ngày 26 – 11 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Văn Mạnh.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Vĩnh Thành;

Bà Nguyễn Thị Thu Hà.

- Thư ký phiên toà: Ông Đường Thái Sơn - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Kim Tuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 122/2024/TLPT - HS ngày năm 2024, đối với các bị cáo Phan Văn T, Nguyễn Văn H do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 57/2024/HS-ST, ngày 23/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch.

Bị cáo có kháng cáo:

1. Phan Văn T, sinh ngày 21/01/1992; nơi sinh và cư trú: Thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn S (đã chết) và bà Nguyễn Thị H1; có vợ là Nguyễn Thị H2 và có 04 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 16/02/2024 đến ngày 19/02/2024 được tại ngoại, có mặt.

2. Nguyễn Văn H, sinh ngày 20/8/1996; nơi sinh và cư trú: Thôn Q, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị N; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không.

Tiền sự: 01, Tại Quyết định số 396/QĐ-XPHC ngày 30/12/2023 Công an huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, ngày 11/3/2024 H chấp hành xong hình phạt (chưa được xóa tiền sự); bị cáo tại ngoại (có mặt).

Trong vụ án còn có một số bị cáo khác không kháng cáo, không bị kháng nghị, không liên quan tới kháng cáo, tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, bản án sơ thẩm và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 16/02/2024, Phan Văn T, ở thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc biết có lễ hội “Đả cầu cướp phết” tổ chức ở đình thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc có tập trung đông người thì nảy sinh ý định đánh bạc hình thức “Bầu cua tôm cá” được thua bằng tiền. Khoảng 14 giờ cùng ngày, T một mình đi bộ đến bãi đất trống cách đình thôn Đ, xã B khoảng 50m, khi đi T mang theo công cụ đánh bạc đã chuẩn bị từ trước gồm: 01 tờ giấy in màu có hình quả bầu, con cua, con tôm, con cá, con gà và con hươu trải xuống mặt đất ở vị trí ngồi rồi đặt lên trên mặt của tờ giấy 01 chiếc bát inox, 01 chiếc đĩa nhựa, 03 quân xúc sắc, mỗi quân xúc sắc có 06 mặt, mỗi mặt in lần lượt hình quả bầu, con cua, con tôm, con cá, con gà và con hươu, sau đó rủ mọi người tham gia đánh bạc hình thức “bầu cua tôm cá” được thua bằng tiền. Thấy vậy, có một số người đã tham gia đánh bạc với T trong đó có Phan Tiến D, Trần Văn H3, Nguyễn Văn H, Lưu Văn D1 và ba đối tượng khác không rõ tên tuổi, địa chỉ. Cách thức đánh bạc như sau: Người chơi đặt cược tiền thì đặt số tiền mình cược lên hình nền các con vật in trên chiếu bạc, sau khi cược xong thì T là nhà cái sẽ tiến hành lắc các quân xúc sắc rồi đặt xuống chiếu bạc. Tỉ lệ thắng thua xác định vào các mặt ngửa của quân xúc sắc, các mặt ngửa này là hình của các con vật nào thì những người đặt cược tiền ở hình các con vật đấy sẽ thắng, còn người đặt tiền ở các con vật khác sẽ thua. T sẽ thu tiền của những người thua lại rồi trả tiền cho người thắng theo tỉ lệ là 1-1, tức đặt bao nhiêu tiền thì người thắng sẽ nhận lại số tiền đặt cược và số tiền thắng tương ứng với số tiền người đó đặt cược, ngoài ra nếu mặt ngửa của 02 quân xúc sắc chung một con vật thì số tiền thắng sẽ nhân đôi, nếu mặt ngửa của 03 quân xúc sắc đều là hình một con vật thì số tiền thắng sẽ nhân ba. Một người có thể đặt cược nhiều con vật, không giới hạn, số tiền đặt cược tối thiểu từ 10.000 đồng trở lên, không giới hạn số tiền đặt tối đa. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, khi các đối tượng đang đánh bạc thì bị tổ công tác Công an huyện L phát hiện bắt quả tang Phan Văn T, Phan Tiến D, Trần Văn H3, Nguyễn Văn H và Lưu Văn D1 đang có hành vi đánh bạc, quá trình bắt giữ ba đối tượng khác tham gia đánh bạc lợi dụng hỗn loạn đã bỏ chạy trốn.

Vật chứng thu giữ: T2 trên chiếu bạc số tiền 12.500.000 đồng; 01 đĩa nhựa; 01 bát Inốc; 03 viên xúc xắc, 01 tờ giấy in hình quả bầu, con cua, con tôm, con cá, con gà và con hươu. T2 trên người H3 750.000 đồng, thu trên người D 500.000 đồng, thu trên người D1 400.000 đồng. T2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy M12, màu xanh, đã cũ của D; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15S đã cũ của H3; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Promax đã cũ, 01 ví da của H và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max đã cũ và 01 chiếc ví da của D1.

Trước khi đánh bạc T có 1.800.000 đồng, D có 1.000.000 đồng, H3 có 800.000 đồng, H có 600.000 đồng, D1 có 410.000 đồng dùng đánh bạc, số tiền còn lại 9.540.000 đồng là của ba đối tượng không rõ tên tuổi địa chỉ đã bỏ chạy khi bị Công an bắt quả tang. Quá trình đánh bạc không ai cảnh giới, không ai phải trả tiền hồ cho ai và không ai vay mượn, cầm cố, thế chấp tài sản gì để đánh bạc.

Đối với ba đối tượng khác tham gia đánh bạc lợi dụng đã bỏ trốn, quá trình điều tra T, H, D, H3 và D1 đều không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của những người trên và không nhận dạng được, Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát camera nhưng do gần vị trí đánh bạc không có camera nên không thu giữ được, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ sẽ xử lý sau.

Với nội dung trên, Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2024/HS-ST, ngày 23/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch đã tuyên bố các bị cáo Phan Văn T, Phan Tiến D, Trần Văn H3, Nguyễn Văn H và Lưu Văn D1 phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Phan Văn T, Nguyễn Văn H. Xử phạt bị cáo T 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 16/02/2024 đến ngày 19/02/2024; xử phạt bị cáo H 08 (T3) tháng tù thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

Bản án còn quyết định xử phạt bị cáo Phan Tiến D; bị cáo Trần Văn H3 mỗi bị cáo 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo; xử phạt bị cáo Lưu Văn D1 07 (Bảy) tháng tù cho hưởng án treo. Ngoài ra bản án còn quyết định về xử lý vật chứng, tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Ngày 26 tháng 8 năm 2024, bị cáo Phan Văn T có đơn kháng cáo; ngày 30 tháng 8 năm 2024, bị cáo Nguyễn Văn H có đơn kháng cáo đều có nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Tại cấp phúc thẩm các bị cáo T, H nộp thêm tài liệu là đơn xin xác nhận của Ủy ban nhân dân xã nơi các bị cáo cư trú về việc các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình. Bị cáo H còn nộp tài liệu thể hiện ông Nguyễn Văn Q được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất, tuy nhiên không có xác nhận của chính quyền địa phương hay tài liệu thể hiện mối quan hệ của bị cáo với ông Q nên không có căn cứ để xem xét.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phát biểu về đơn kháng cáo của các bị cáo; phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của các bị cáo T, H. Đề nghị căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự để giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo T, H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của các bị cáo Phan Văn T, Nguyễn Văn H làm trong hạn luật định, hợp lệ được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về tố tụng: Cấp sơ thẩm trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự, các tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo trong vụ án đã đầy đủ, có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Phan Văn T, Nguyễn Văn H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã quy kết. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo khác trong vụ án tại cơ quan điều tra; phù hợp với vật chứng, cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ cơ sở để kết luận:

Do có ý định đánh bạc, bị cáo Phan Văn T chuẩn bị các dụng cụ đánh bạc bằng hình thức “bầu tôm cua cá”. Trong khoảng thời gian từ 14 giờ đến 14 giờ 30 phút ngày 16/02/2024, tại bãi đất trống cách đình làng thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc khoảng 50 mét, bị cáo Phan Văn T đánh bạc bằng hình thức “bầu tôm cua cá” được thua bằng tiền với các bị cáo Phan Tiến D, Trần Văn H3, Nguyễn Văn H và Lưu Văn D1 thì bị bắt quả tang. Vật chứng thu tại chiếu bạc: 12.500.000 đồng 01 bát Inốc, 01 đĩa nhựa, 03 quân xúc sắc hình lập phương, 01 tờ giấy có in hình quả bầu, con tôm, con cua, con cá, con gà và con hươu; thu trên người H3 750.000 đồng; thu trên người D 500.000 đồng và thu trên người D1 400.000 đồng. Các bị cáo khai nhận dùng toàn bộ số tiền trên vào việc đánh bạc. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 14.150.000 đồng.

[4] Với nội dung như trên, Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch xét xử các bị cáo Phan Văn T, Phan Tiến D, Trần Văn H3, Nguyễn Văn H và Lưu Văn D1 về tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, không oan sai.

Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định: “1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng..., thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

[5] Xét tính chất vụ án ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, động cơ phạm tội của các bị cáo là tham lam tư lợi. Đánh bạc không những xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình trật tự an toàn xã hội mà còn là nguyên nhân phát sinh một số tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo mức án nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung.

[6] Xét đơn xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo của các bị cáo Phan Văn T, Nguyễn Văn H, Hội đồng xét xử thấy:

- Đối với bị cáo T: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; bị cáo hiện nay là lao động chính trong gia đình, con nhỏ, vợ sắp sinh con. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để cân nhắc, quyết định mức hình phạt đối với bị cáo.

Trong vụ án này, bị cáo T có vai trò chính, là người khởi sướng, chuẩn bị công cụ phạm tội, là nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của các bị cáo khác trong vụ án. Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo T 09 tháng tù là tương xứng với hành vi phạm tội; có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo T không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới, do vậy cấp phúc thẩm thấy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cần giữ nguyên hình phạt đối với bị cáo.

- Đối với bị cáo Nguyễn Văn H: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo; không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; trong quá trình làm việc bị cáo được giám đốc Công ty tặng giấy khen, bố bị cáo mất sớm, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên khi phạm tội, bị cáo H là người có nhân thân xấu (ngày 30/12/2023, bị cáo đã bị Công an huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt hành chính (cũng về hành vi đánh bạc, đến ngày phạm tội bị cáo chưa nộp phạt), bị cáo không lấy đó là bài học cho bản thân, mà lại tiếp tục tham gia đánh bạc, không đủ điều kiện để được hưởng án treo theo Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo H 08 tháng tù là tương xứng với hành vi phạm tội, có căn cứ, đúng quy định.

Tại cấp phúc thẩm bị cáo H không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới nên cấp phúc thẩm không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cần giữ nguyên hình phạt đối với bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tại phiên tòa đề nghị không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo T, H; đề nghị áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự để giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo T, H là phù hợp, cần chấp nhận.

[7] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[8] Kháng cáo của các bị cáo không được Hội đồng xét xử chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phan Văn T, Nguyễn Văn H.

Giữ nguyên bản án Hình sự sơ thẩm số 57/2024/HS – ST ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch về hình phạt đối với các bị cáo Phan Văn T, Nguyễn Văn H.

2. Tuyên bố các bị cáo Phan Văn T, Nguyễn Văn H phạm tội “Đánh bạc”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phan Văn T và Nguyễn Văn H.

+ Xử phạt bị cáo Phan Văn T 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 16/02/2024 đến ngày 19/02/2024.

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 08 (T3) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

3. Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Phan Văn T và Nguyễn Văn H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm, mỗi bị cáo 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - TAND huyện Lập Thạch;
  • - VKSND huyện Lập Thạch;
  • - Chi cục THADS huyện Lập Thạch;
  • - Sở tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Công an huyện Lập Thạch;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu HS - Tòa hình sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Vũ Văn Mạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 117/2024/HS-PT ngày 26/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 117/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Phan Văn Thái chuẩn bị các dụng cụ đánh bạc bằng hình thức “bầu tôm cua cá”. Trong khoảng thời gian từ 14 giờ đến 14 giờ 30 phút ngày 16/02/2024, tại bãi đất trống cách đình làng thôn Đông Lai, xã Bàn Giản, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc khoảng 50 mét, bị cáo Phan Văn Thái đánh bạc bằng hình thức “bầu tôm cua cá” được thua bằng tiền với các bị cáo Phan Tiến Dũng, Trần Văn Hiếu, Nguyễn Văn Hùng và Lưu Văn Duy thì bị bắt quả tang. Vật chứng thu tại chiếu bạc: 12.500.000 đồng 01 bát Inốc, 01 đĩa nhựa, 03 quân xúc sắc hình lập phương, 01 tờ giấy có in hình quả bầu, con tôm, con cua, con cá, con gà và con hươu; thu trên người Hiếu 750.000 đồng; thu trên người Dũng 500.000 đồng và thu trên người Duy 400.000 đồng. Các bị cáo khai nhận dùng toàn bộ số tiền trên vào việc đánh bạc. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 14.150.000 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger