Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 117/2024/HS-PT

Ngày: 15-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Vũ Văn Minh.

Các Thẩm phán: ông Lê Vũ Tiến và bà Trương Thị Đào Vi .

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Minh Thành – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: ông Hoàng Thuyên - Kiểm sát viên.

Ngày 15/11/2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 114/2024/TLPT-HS ngày 29/10/2024 đối với bị cáo Lê Bảo Q; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án số 277/2024/HS-ST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Bị cáo có kháng cáo:

Lê Bảo Q

(tên gọi khác: P, N); giới tính: Nam; sinh ngày 08 tháng 10 năm 1983, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Tổ B, khu V, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê C (đã chết) và bà Hoàng Thị C1, sinh năm 1961; anh chị em ruột có 06 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; có vợ là: Dương Thị H, sinh năm 1974 và 04 người con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2013.

Về nhân thân:

  • - Ngày 01/4/2004 bị Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 03 năm 06 tháng tù, về tội “Cướp tài sản” (Bản án số: 26/HSST);
  • - Ngày 12/11/2008 bị Tòa án nhân dân thành phố Huế xử phạt 01 năm 03 tháng tù, về các tội “Trộm cắp tài sản”, “Cố ý gây thương tích” (Bản án số: 178/2008/HSST);
  • - Ngày 27/5/2010 bị Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 01 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 50/2010/HSPT);
  • - Ngày 16/12/2010 bị Công an phường V, thành phố H, xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền do đã có hành vi xúc phạm người khác (Quyết định số: 13297);
  • - Ngày 30/6/2012 bị Công an thành phố H, xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền do đã có hành vi vi phạm luật giao thông đường bộ (Quyết định số: 6976);
  • - Ngày 26/3/2014 bị Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 02 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 07/2014/HSST);
  • - Ngày 14/11/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Huế xử phạt 10 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 249/2017/HSST, bị cáo chưa nộp án phí hình sự);
  • - Ngày 28/9/2020 bị Tòa án thành phố H xử phạt 02 năm 03 tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích” (Bản án số: 221/2020/HSST; bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/9/2022; bị cáo chưa nộp án phí hình sự).

Tiền án: 03 (Bản án số: 07/2014/HSST ngày 26/3/2014; bản án số: 249/2017/HSST ngày 14/11/2017; bản án số: 221/2020/HSST ngày 28/9/2020).

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 29/6/2024 cho đến nay. Có mặt.

Những người tham gia tố tụng khác có liên quan đến kháng cáo: không

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 04 giờ 00 phút ngày 28/6/2024, Lê Bảo Q đi bộ ngang qua quán cà phê “Không gian xanh” tại tổ dân phố L, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, của bà Nguyễn Thị Bích T. Q phát hiện quán không khóa cửa nên lén lút đột nhập vào bên trong lấy trộm 01 điện thoại hiệu Iphone 12 Promax của bà T tại khu vực phòng ngủ tầng một. Sau khi lấy trộm tài sản, Q tiếp tục đi bộ đến tổ dân phố L, phường P, phát hiện nhà ông Nguyễn Dương Q1 không khóa cửa nên Q1 lén lút đột nhập vào bên trong nhà tìm tài sản để lấy trộm. Khi Q1 đang ở khu vực nhà bếp thì bị ông Nguyễn Dương Q1 và người trong gia đình phát hiện trình báo sự việc đến Cơ quan Công an phường P bắt giữ Q1.

  • - Kết luận định giá tài sản số: 180/KL-HĐĐGTS ngày 28/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố H kết luận: 01 điện thoại hiệu Iphone 12 Promax, có số Imei 358598934631194, đã qua sử dụng, có giá trị: 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
  • - Vật chứng đã tạm giữ và xử lý: 01 điện thoại hiệu Iphone 12 Promax, có số Imei 358598934631194, đã qua sử dụng. Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại tài sản cho chị Nguyễn Thị Bích T.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị Bích T đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt không yêu cầu bồi thường về dân sự.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 277/2024/HS-ST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế đã quyết định áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Bảo Q 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 29/6/2024.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 09/10/2024, bị cáo Lê Bảo Q có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Bảo Q vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Lê Bảo Q 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Bảo Q khai và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ để xác định :

Vào khoảng 04 giờ 00 phút ngày 28/6/2024, tại tổ dân phố L, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Lê Bảo Q đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 điện thoại hiệu Iphone 12 Promax, có giá trị: 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) của bà Nguyễn Thị Bích T. Nên bị cáo Lê Bảo Q phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.

Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Bảo Q, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù giam là phù hợp, đã xem xét đến nhân thân, đánh giá đúng tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới, vì vậy Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo mà cần phải giữ nguyên bản án sơ thẩm như lời đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát là hoàn toàn có cơ sở.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

[3] Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Bảo Q; giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 277/2024/HS-ST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội:

Tuyên bố bị cáo Lê Bảo Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: bị cáo Lê Bảo Q 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 29/6/2024.

  1. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Bảo Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
  2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND CC tại Đà Nẵng;
  • - VKSND CC tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh TT Huế;
  • - TAND thành phố Huế;
  • - Cơ quan THAHS Công an thành phố Huế;
  • - Cơ quan CSĐT Công an thành phố Huế;
  • - Chi cục THA DS thành phố Huế;
  • - Phòng PV06 Công an tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa HS, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 117/2024/HS-PT ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về tội "trộm cắp tài sản"

  • Số bản án: 117/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tội "Trộm cắp tài sản"
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Bảo Q - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger