Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 117/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 13/5/2024

V/v: "Ly hôn, Tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đình Quyến.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Quỳnh.

2. Ông Tô Đình Phương.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đào Nguyên Quy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Hòa – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 256/2023/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2023 về việc: “Ly hôn, Tranh chấp nuôi con”; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19/4/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phan Thị S; sinh năm: 1985. (có mặt)

Địa chỉ: Thôn G, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định.

- Bị đơn: Anh Võ Đình D; sinh năm: 1983. (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn G, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ghi ngày 21/8/2023 và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Phan Thị S trình bày:

* Về quan hệ vợ chồng:

Chị với anh Võ Đình D kết hôn vào năm 2006, do tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn vào ngày 07/12/2006 tại UBND xã C, huyện P, tỉnh Bình Định.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chuyển về sống chung nhà với cha mẹ ruột của anh D tại thôn T, xã C, huyện P một khoảng thời gian thì vợ chồng xây dựng nhà ở riêng. Đời sống hôn nhân của vợ chồng hạnh phúc bình thường khoảng 05 năm thì giữa chị và anh D bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính làm phát sinh mâu thuẫn vợ chồng là do anh D tham gia đánh bạc, ảnh hưởng lớn

đến đời sống kinh tế gia đình. Trong khoảng thời gian này, vợ chồng thường xuyên xảy ra xích mích, xung đột nhưng sau đó anh D đã nhận ra lỗi lầm của mình. Anh hứa sẽ từ bỏ cờ bạc, chăm lo làm ăn, xây dựng hạnh phúc gia đình nên chị tha thứ, bỏ qua. Đến năm 2021 vợ chồng tiếp tục phát sinh mâu thuẫn do anh D tiếp tục tham gia đánh bạc dẫn đến nợ nần nhiều người. Mặc dù trong khoảng thời gian này mâu thuẫn vợ chồng rất căng thẳng, nhưng vì các con còn nhỏ, chị cố gắng chịu đựng, nhiều lần trả nợ thay cho anh D với hy vọng anh sẽ từ bỏ tệ nạn cờ bạc để xây dựng hạnh phúc gia đình. Tuy nhiên, càng về sau anh D đối xử càng tệ bạc với vợ con. Mọi khoản thu nhập từ nghề lái xe anh D dùng để chi tiêu cho bản thân và tham gia đánh bạc, không quan tâm đến đời sống của chị và các con. Bức xúc với lối sống buông thả, thiếu trách nhiệm của anh D, năm 2022 chị có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Phù Cát xem xét, giải quyết cho chị được ly hôn với anh D. Tuy nhiên, sau khi Tòa án đã thụ lý, giải quyết vụ án, anh D chủ động hòa giải với chị, mong chị bỏ qua những thiếu sót, sai lầm anh phạm phải để vợ chồng được đoàn tụ. Với hy vọng anh D sẽ thay đổi lối sống, chị tự nguyện rút đơn khởi kiện để anh D có thời gian và cơ hội sửa chữa bản thân và Tòa án đã đình chỉ việc giải quyết vụ án. Sau khi Tòa án đình chỉ việc giải quyết vụ án, chị phát hiện anh D lên Đ lái xe tải thuê và thuê nhà trọ tại S, G, Đ sống chung với chị Phạm Thị H (người tại địa phương) như vợ chồng. Bắt đầu từ đây, anh D bỏ bê gia đình, vợ con. Chị và anh D sống ly thân từ tháng 4 năm 2022 đến nay.

Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mức độ mâu thuẫn giữa chị và anh D ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, chị khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết cho chị được ly hôn với anh D.

* Về quan hệ con chung:

Giữa chị và anh D có 04 người con chung là các cháu Võ Thị Anh T; sinh ngày 15/11/2007, Võ Hoàng Y; sinh ngày 05/8/2014, Võ Hồng N; sinh ngày 31/5/2018 và cháu Võ Thái S1; sinh ngày 20/4/2022. Hiện nay, sức khỏe, thể chất của các cháu đang phát triển bình thường, đang được chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Nếu ly hôn, chị yêu cầu Tòa án giao cả 04 cháu cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; yêu cầu anh D phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 4.000.000 đồng/tháng/04 cháu cho đến khi các con thành niên.

* Về quan hệ tài sản:

Tài sản chung của vợ chồng chị không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết trong vụ án này.

Bị đơn anh Võ Đình D đã được Tòa án thông qua chính quyền địa phương tổng đạt trực tiếp các văn bản tố tụng: Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho bà Nguyễn Thị Tuyết N1 (mẹ ruột của anh D) nhận thay, kết giao lại cho anh D.

Mặc dù biết rõ hiện nay Toà án đang thụ lý, giải quyết việc chị S khởi kiện yêu cầu ly hôn, nhưng anh D cố ý lẩn tránh, không đến Tòa án để tham gia tố tụng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định phát biểu ý kiến kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử (HĐXX) nghị án là đúng theo qui định của pháp luật Tố tụng dân sự. Riêng bị đơn anh Võ Đình D cố ý lẩn tránh, không đến Tòa án tham gia tố tụng thì phải gánh chịu hậu quả pháp lý của việc vắng mặt.

Về hướng giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình - 2014 chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị S được ly hôn với anh D. Về con chung: giao các cháu Võ Thị Anh T, Võ Hoàng Y, Võ Hồng N và Võ Thái S1 cho chị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; buộc anh D phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 4.000.000 đồng/04 cháu cho đến khi các cháu thành niên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

[1] Xét về thủ tục tố tụng:

Bị đơn anh Võ Đình D nhiều lần được Tòa án tống đạt trực tiếp Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Q đưa vụ án ra xét xử và các văn bản tố tụng khác do bà N1 (mẹ anh D) nhận thay, cam kết giao lại cho anh D để anh đến Tòa án thực hiện quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình. Mặt khác, do anh D thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú nên Thẩm phán trực tiếp giải quyết vụ án đã liên lạc được với anh D thông qua số điện thoại ghi trong đơn khởi kiện để thông báo việc Toà án thụ lý, giải quyết vụ án. Mặc dù biết rõ Toà án đang thụ lý, giải quyết yêu cầu ly hôn của chị S, nhưng bị đơn cố ý lẩn tránh không đến Tòa án để tham gia tố tụng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS), Tòa án tiến hành giải quyết, xét xử vụ án theo thủ tục chung. Bị đơn anh Võ Đình D phải gánh chịu hậu quả pháp lý của việc vắng mặt theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1] Xét tính hợp pháp của quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị S với anh Võ Đình D kết hôn năm 2006 trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán ở địa phương. Ngày 07/12/2006 chị S và anh D đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện P, tỉnh Bình Định. Tại thời điểm đăng kí kết hôn, cả chị S và anh D đều đáp ứng đầy đủ các điều kiện kết hôn quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; thẩm quyền đăng ký

kết hôn và nghi thức tổ chức đăng ký kết hôn phù hợp với quy định tại các Điều 12, 14 Luật Hôn nhân và gia đình – 2000 nên quan hệ hôn nhân giữa chị S với anh D được pháp luật thừa nhận là hôn nhân hợp pháp.

[2.2] Xét yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị S, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, HĐXX thấy rằng: Là vợ chồng, lẽ ra anh D và chị S phải có thái độ tôn trọng nhau, thương yêu, chung thủy, chăm sóc lẫn nhau và cùng nhau chia sẻ, gánh vác công việc chung để xây dựng đời sống hôn nhân hạnh phúc, tiến bộ. Tuy nhiên, theo nguyên đơn chị S trình bày, sau khi kết hôn, đời sống hôn nhân giữa chị và anh D chỉ thực sự hạnh phúc bình thường khoảng 05 năm thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính làm phát sinh mâu thuẫn vợ chồng là do anh D sống không có trách nhiệm với gia đình, vợ con, nhiều lần tham gia đánh bạc dẫn đến nợ nần, ảnh hưởng đến đời sống kinh tế của vợ chồng. Năm 2022 chị khởi kiện tại Toà án yêu cầu ly hôn, nhưng quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, anh D chủ động hòa giải, mong muốn chị bỏ qua những thiếu sót, sai lầm của anh để vợ chồng được đoàn tụ. Hy vọng anh D sẽ thay đổi lối sống nên chị S tự nguyện rút đơn khởi kiện, Tòa án đã đình chỉ việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên, sau khi Tòa án đình chỉ việc giải quyết vụ án, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng không chấm dứt, chậm chí mức độ mâu thuẫn ngày càng gay gắt hơn. Chị S cho rằng, ngoài việc tham gia đánh bạc, sống không có trách nhiệm với gia đình, anh D còn có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác ở tỉnh Đăk Nông, thuê nhà sống chung với người phụ nữ này như vợ chồng. Từ tháng 4 năm 2022 đến nay chị và anh D sống ly thân, không có sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau.

Xét quá trình tham gia tố tụng tại Toà án, chị S không chứng minh được anh D có quan hệ ngoại tình, nhưng nguyên nhân chính làm phát sinh mâu thuẫn vợ chồng xuất phát từ việc anh D tham gia đánh bạc dẫn đến vay nợ nhiều người. Điều này được bà N1 (mẹ anh D) thừa nhận khi cung cấp thông tin về nguyên nhân anh D lẩn tránh, không đến Toà án tham gia tố tụng để giải quyết vụ án. Mặt khác, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải để anh D đến Tòa án thực hiện quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình; đồng thời tạo điều kiện cho anh chị gặp nhau tại Toà án để các bên có cơ hội hòa giải; chia sẻ, bỏ qua những thiếu sót của nhau, cùng nhau quay về đoàn tụ. Mặc dù biết rõ Toà án đang thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị S, nhưng anh D có thái độ bỏ mặc, cố ý lẩn tránh, vắng mặt tại các phiên hòa giải. Do đó, HĐXX có đủ căn cư để kết luận: quan hệ hôn nhân giữa chị S và anh D đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc chị S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh D là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình – 2014 nên được HĐXX chấp nhận.

[2.3] Về quan hệ con chung: Giữa chị S với anh D có 04 người con chung

chưa thành niên là các cháu Võ Thị Anh T; sinh ngày 15/11/2007, Võ Hoàng Y; sinh ngày 05/8/2014, Võ Hồng N; sinh ngày 31/5/2018 và cháu Võ Thái S1; sinh ngày 20/4/2022. Hiện tại sức khỏe, thể chất của các cháu phát triển bình thường, đang được chị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Nếu ly hôn, chị S yêu cầu được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 04 cháu; yêu cầu anh D phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng/cháu cho đến khi các con thành niên.

Xét việc tranh chấp nuôi con của các đương sự, HĐXX thấy rằng: hiện nay cháu T và cháu Y đã trên 07 tuổi và có nguyện vọng được ở với mẹ; cháu S1 dưới 36 tháng tuổi. Từ tháng 4/2022 đến nay chị S và anh D sống ly thân mỗi người một nơi, cả 04 cháu đều do chị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Mặc dù không có sự quan tâm chăm sóc, chia sẻ về tài chính của anh D, nhưng chị S vẫn đảm bảo được quyền lợi về mọi mặt của các con. Vì vậy, HĐXX xét giao cả 04 cháu cho chị S tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là cần thiết; buộc anh D phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng/cháu cho đến khi các cháu thành niên là phù hợp với quy định của pháp luật nên yêu cầu của chị S được Toà án chấp nhận.

[2.4] Về quan hệ tài sản: Các đương sự không có tranh chấp nên HĐXX không xem xét, giải quyết trong vụ án này.

[3] Án phí DSST: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của BLTTDS, điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa XIV, chị Phan Thị S phải chịu án phí ly hôn; anh Võ Đình D phải chịu án phí cấp dưỡng.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về hướng giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của HĐXX nên Tòa án chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 186, điểm b khoản 2 Điều 227, các Điều 264, 266, 273, 280 của BLTTDS;

- Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm – 2014;

- Áp dụng khoản 4 Điều 147 của BLTTDS, điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH 14.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị S về việc yêu cầu ly hôn với anh Võ Đình D.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị S được ly hôn với anh Võ Đình D.

1.2. Về quan hệ con chung:

- Chị Phan Thị S được quyền trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng các cháu Võ Thị Anh T; sinh ngày 15/11/2007, Võ Hoàng Y; sinh ngày 05/8/2014, Võ Hồng N; sinh ngày 31/5/2018 và cháu Võ Thái S1; sinh ngày 20/4/2022;

- Buộc anh Võ Đình D phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng/cháu cho đến khi cháu T, cháu Y, cháu N và cháu S1 thành niên.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở;

Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

1.3. Về quan hệ tài sản: Các đương sự không có tranh chấp nên Tòa án không xem xét giải quyết.

2. Án phí DSST:

2.1. Án phí ly hôn: Chị Phan Thị S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006632 ngày 21/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.

2.2. Buộc anh Võ Đình D phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Phan Thị S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Riêng anh Võ Đình D vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận tống đạt trực tiếp hoặc niêm yết công khai hợp lệ bản án.

* Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Định
  • - VKSND huyện Phù Cát;
  • - THADS huyện Phù Cát;
  • - UBND xã Cát Minh, huyện Phù Cát;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Đình Quyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 117/2024/HNGĐ-ST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 117/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, Tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa nguyên đơn Phan Thị S - Võ ĐÌnh D
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger