|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 117/2024/DS - ST Ngày 07 - 5 - 2024 V/v Tranh chấp hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Hà Thanh Khiết |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Bùi Xuân Minh |
| Ông Nguyễn Việt Thắng | |
| Thư ký phiên tòa: | Bà Đoàn Thúy Vân - Thư ký Tòa án |
Trong ngày 07 tháng 5 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 09/2024/TLST- DS ngày 03 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2024/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn L - Sinh năm 1965 (Có mặt)
Cư trú tại: Ấp N, xã K, huyện T, Cà Mau
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Văn L:
Bà Võ Bé N – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C (Có mặt)
Bị đơn: 1. Ông Tạ Hoàng V (Vắng mặt)
2. Bà Phạm Mỹ N1 (Vắng mặt)
Cư trú tại: Ấp N, xã K, huyện T, Cà Mau
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 02 tháng 01 năm 2024 và tại phiên tòa ông Nguyễn Văn L trình bày:
Từ năm 2019 ông Tạ Hoàng V cùng vợ là bà Phạm Mỹ N1 có làm chủ hụi. Tôi có tham gia chơi hụi tổng cộng 04 chân hụi, 02 chân hụi 2.000.000 đồng và 02 chân hụi 3.000.000 đồng hình thức là hụi tháng, mỗi tháng khui một lần, ai bỏ thăm cao thì được hốt hụi. Tôi chơi hụi được một thời gian thì đến ngày 08 tháng 10 năm 2022 âm lịch vợ chồng ông V và bà N1 có đến nhà tôi làm biên nhận chốt lại số tiền hụi còn nợ với tôi tổng số tiền của 04 chân hụi là 246.620.000 đồng. Lý do ông V và bà N1 làm như vậy là do tôi có hốt hụi chót, nhưng bà N1 và ông V không chung hụi đúng theo quy định và thỏa thuận ban đầu.
Tại biên nhận ngày 08 tháng 10 năm 2022 âm lịch ông V và bà N1 hứa trả cho tôi 100.000.000 đồng, và trả số tiền còn lại sau một tháng. Tuy nhiên sau khi viết biên nhận nợ cho tôi thì ông V và bà N1 không thực hiện theo cam kết tại biên nhận. Tôi đã liên hệ nhiều lần để yêu cầu vợ chồng ông V, bà N1 thực hiện cam kết trả nợ cho tôi, nhưng không có kết quả. Nay tôi khởi kiện ông Tạ Hoàng V cùng vợ là bà Phạm Mỹ N1 yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời giải quyết buộc ông Tạ Hoàng V cùng vợ là bà Phạm Mỹ N1 phải trả cho tôi số tiền nợi hụi còn thiếu là 246.620.000 đồng theo biên nhận mà ông V và bà N1 viết tại nhà tôi vào ngày 08 tháng 10 năm 2022 âm lịch.
Đối với ông Tạ Hoàng V và bà Phạm Mỹ N1 kể từ khi thụ lý vụ án, mặc dù đã được tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng như Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định xét xử và giấy triệu tập đương sự, nhưng vợ chồng bà N1 vẫn không đến Tòa án để tham gia tố tụng và cũng không có bất cứ văn bản nào thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp Hụi quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015. Tranh chấp giữa các bên đương sự là tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có địa chỉ thường trú tại Ấp N, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau nên Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Qua xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, nhận định của Hội đồng xét xử về nội dung tranh chấp của vụ án như sau:
Tại hồ sơ thể hiện phía bị đơn là ông Tạ Hoàng V và bà Phạm Mỹ N1 thừa nhận có nợ tiền hụi ông Nguyễn Văn L số tiền là 246.620.000 đồng tại tờ biên nhận ngày 08 tháng 10 năm 2022 âm lịch có chữ ký của ông Tạ Hoàng V, bà Phạm Mỹ N1, ông Nguyễn Văn L và bà Trương Thị L1 (Vợ ông L). Đây là những tình tiết không cần phải chứng minh quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Mặc dù vợ chồng bà N1 đã được tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng như Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định xét xử và giấy triệu tập đương sự, nhưng vợ chồng bà N1 vẫn không đến Tòa án để tham gia tố tụng và cũng không có bất cứ văn bản nào thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Do đó ông Tạ Hoàng V và bà Phạm Mỹ N1 phải chịu hậu quả pháp lý cho việc vắng mặt của mình tại các phiên giải quyết vụ án của Tòa án.
Do không có ý kiến phản hồi từ phía Bị đơn đối với yêu cầu của Nguyên đơn. Nên hội đồng xét xử căn cứ vào chứng cứ có chữ ký của ông Tạ Hoàng V và vợ là bà Phạm Mỹ N1 do nguyên đơn cung cấp để giải quyết vụ án.
Sau khi xem xét chứng cứ do nguyên đơn cung cấp kết hợp với quan điểm của Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông L tại phiên tòa. Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Nguyễn Văn L đối với ông Tạ Hoàng V và bà Phạm Mỹ N1.
Buộc ông Tạ Hoàng V và bà Phạm Mỹ N1 phải trả cho ông Nguyễn Văn L số tiền hụi còn nợ là 246.620.000 đồng (Hai trăm bốn mươi sáu triệu sáu tram hai mươi nghìn đồng).
Đối với số tiền nêu trên, kể từ ngày ông Nguyễn Văn L có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông Tạ Hoàng V và bà Phạm Mỹ N1 không thi hành xong thì ông Tạ Hoàng V và bà Phạm Mỹ N1 còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 đối với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
[3] Về án phí các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật. Ông Nguyễn Văn L phải chịu án phí theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Cụ thể như sau:
Ông Nguyễn Văn L được nhận lại 6.166.000 đồng (Sáu triệu một tram sáu mươi sáu nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã dự nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004342 ngày 03 tháng 01 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời.
Ông Tạ Hoàng V và bà Phạm Mỹ N1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 246.620.000 đồng x 5% = 12.331.000 đồng (Mười hai triệu ba trăm ba mươi mốt nghìn đồng). Nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các điều 26, 35, 39, 147, 227, 266, 271, 273, 278 và 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Các điều 357, 471, 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Nguyễn Văn L đối với ông Tạ Hoàng V và bà Phạm Mỹ N1.
Buộc ông Tạ Hoàng V và bà Phạm Mỹ N1 phải trả cho ông Nguyễn Văn L số tiền hụi còn nợ là 246.620.000 đồng (Hai trăm bốn mươi sáu triệu sáu trăm hai mươi nghìn đồng).
Đối với số tiền nêu trên, kể từ ngày ông Nguyễn Văn L có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông Tạ Hoàng V và bà Phạm Mỹ N1 không thi hành xong thì ông Tạ Hoàng V và bà Phạm Mỹ N1 còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 đối với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
[2] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc ông Tạ Hoàng V và bà Phạm Mỹ N1 phải nộp 12.331.000 đồng (Mười hai triệu ba trăm ba mươi mốt nghìn đồng). Nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Ông Nguyễn Văn L được nhận lại 6.166.000 đồng (Sáu triệu một trăm sáu mươi sáu nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã dự nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004342 ngày 03 tháng 01 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời. Nhận tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Tạ Hoàng V và bà Phạm Mỹ N1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thanh Khiết |
Bản án số 117/2024/DS - ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hụi
- Số bản án: 117/2024/DS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Nguyễn Văn Lưu đối với ông Tạ Hoàng Vân và bà Phạm Mỹ Nương. Buộc ông Tạ Hoàng Vân và bà Phạm Mỹ Nương phải trả cho ông Nguyễn Văn Lưu số tiền hụi còn nợ là 246.620.000 đồng (Hai trăm bốn mươi sáu triệu sáu trăm hai mươi nghìn đồng). Đối với số tiền nêu trên, kể từ ngày ông Nguyễn Văn Lưu có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông Tạ Hoàng Vân và bà Phạm Mỹ Nương không thi hành xong thì ông Tạ Hoàng Vân và bà Phạm Mỹ Nương còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 đối với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
