TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 117/2024/DS-PT Ngày: 23/10/2024 V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Từ
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hải Minh, bà Trần Thị Mỹ Hải
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Lệ Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 19, 26/8/2024; 16, 23/10/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 29/2024/TLPT-DS ngày 10/6/2024 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” do Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 12/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 147/2024/QĐXX-PT ngày 01/7/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Bá N, sinh năm 1964; Địa chỉ: K (nay là khối D) thị Trấn Y, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Có mặt,
Bị đơn: Ông Võ Thành K (tên gọi khác: Võ Văn K1), sinh năm 1958 và bà Phan Thị H, sinh năm 1952; Địa chỉ: K (nay là khối D) thị Trấn Y, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Đều có mặt,
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Phan Thị Hồng T, tên gọi khác là: Phan Thị T, sinh năm 1970; Địa chỉ: K (nay là khối D) thị Trấn Y, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú hiện nay: Xóm T, xã X, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Ông Vũ Quang H1, sinh năm 1952; Địa chỉ: K (nay là khối D) thị Trấn Y, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Vắng mặt.
Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1952; Địa chỉ: tổ A, khu đô thị B, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội, có mặt ngày 19/8/2024, vắng mặt các ngày 26/8/2024; 16, 23/10/2024.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo Bản án sơ thẩm thì vụ án có nội dung tóm tắt như sau:
Nguyên đơn trình bày: Năm 1997, gia đình ông có mua một mảnh đất của gia đình ông T3, bà T1 thửa đất số 173, tờ bản đồ số 07, tại khối 1 thị trấn (nay là khối D), huyện Y, tỉnh Nghệ An. Vị trí thửa đất: Phía Đông giáp nhà bà Phan Thị H, phái tây giáp nhà anh N1, phía Nam giáp hạt giao thông Y, phía Bắc giáp đường E. Năm 2005 được UBND huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông nhưng không đúng với diện tích và hình thể thửa đất đang sử dụng. Do đó, ngày 30/6/2009 UBND huyện Y đã ban hành quyết định 1868/QĐ-UBND hủy bỏ và thu hồi 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông Nguyễn Bá N và hộ ông Võ Văn K1. Đến nay UBND huyện Y vẫn chưa cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N vì đang có tranh chấp với gia đình ông K1, bà H.
Năm 1999, gia đình ông K1 làm nhà kiên cố và đổ vê phía trước chồng lấn lên 2,34m² đất của gia đình ông. Ông N đã nhiều lần có ý kiến với gia đình ông K1 và đã làm đơn lên UBND thị trấn Y nhưng không được giải quyết.
Ngày 21/12/2004, bà Phan Thị T (vợ ông N nay đã ly hôn) có lập biên bản thỏa thuận với bà Phan Thị H về việc chiqa đôi diện tích phần mặt tiền bám đường 538 thành hai phần bằng nhau do phía trước góc trái thửa đất của gia đình ông N có quán của ông H1). Hai bên thống nhất khi nào quán của ông H1 giải quyết xong thì phần đất lưu không của hai hộ sẽ chia đôi theo giấy tờ của từng hộ đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Bà H đã nhận số tiền chênh lệch đất mặt sau và số tiền 5m² đất của ông H1 là 5.416.000 đồng. Bà T đã có giấy cho ông N toàn quyền giải quyết và được hưởng toàn bộ số tiền này. Do vậy, ông yêu cầu Tòa án buộc ông K1, bà H trả lại 2,34m² đất và ra quyết định vẽ cấp bìa cho gia đình ông theo đúng hiện trạng sử dụng; đồng thời trả lại số tiền 5.416.000 đồng và số tiền trượt giá từ năm 20024 đến naqy là 55.416.000 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà bị đơn ông Võ Thành K (tên gọi khác: Võ Văn K1) trình bày:
Về nguồn gốc sử dụng đất: Thửa đất số 174, tờ bản đồ số 07 tại khối A, thị trấn Y, huyện Y hiện ông K1, bà N đang sử dụng được Nhà nước giao đất năm 1994. Ngày 28/12/2004, ông bà được UBND huyện Y cấpgiấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng do ông Bá N khiếu nại về vieeccj cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng hiện trạng và cho rằng gia đình ông K1 làm nhà chồng lấn lên phần đất của ông N nên năm 2009, UBND huyện Y ban hành Quyết định hủy và thu hồi 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho gia đình ông K1 và gia đình ông N. Việc ông N cho rằng năm 1999, gia đình ông làm nhà đổ vê tầng 1 lấn sang đất gia đình ông N và yêu cầu trả lại 2,34m² đất là không có căn cứ vì: Đất gia đình ông, bà được UBND huyện cấp quyền sử dụng đất; Căn cứ vào hồ sơ xin cấp giấy CNQSD đất của ông N và bà T, xác định ranh giới, mốc giới phía đông giáp nhà ông K1, bà H là một đường thẳng kéo dài từ Hạt giao thông 371 đến đường E (7B) không có sự chồng lấn; Căn cứ bản xác nhận của ông Lê Văn T2, nguyên là cán bộ địa chính thời kỳ 2004–2006 gửi Toà án; Căn cứ giấy thỏa thuận của bà T ngày 26/12/2004; Bản ghi âm cuộc gọi ngày 28/12/2023 cuộc nói chuyện giữa bà H và bà T; Căn cứ tờ bản đồ số 07 của Phòng Tài nguyên môi trường huyện Y và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 174 đã cấp cho ông, bà; Hàng năm ông K1 đều nạp thuế đất đầy đủ có hoá đơn.
Đối với yêu cầu trả số tiền 5.416.000 đồng vqaf tiền trượt giá: Do phía trước đất của ông N có quán của ông H1 nên vào năm 2004, bà T (vợ cũ của ông N) có thương lượng với bà H thuê 5m² đất bám đường 538 của gia đình bà H. Bà H thống nhất hai bên lập biên bản thỏa thuận khi nào quán ông H1 giải quyết xong thì phần đất lưu không của hai hộ sẽ chia đôi theo giấy tờ của từng hộ theo hiện trạng như Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp. Số tiền 5.416.000 đồng bà H nhận từ bà T là tiền cho thuê đất chứ không phải tiền bán đất nên việc ông N khởi kiện là không có căn cứ, trái với nội dung thỏa thuận hai bên đã lập ngày 21/12/2004, do đó đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của ông N.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án trình bày:
- - Bà Phan Thị Hồng T (vợ ông N hiện đã ly hôn) trình bày: Nội dung thoả thuận lập ngày 21/12/2004 hai bên đã thống nhất do ốt ông H1 chiếm dụng 5m đất lưu không nên hai nhà phải thống nhất chia đôi đất lưu không theo hiện trạng đã có. Về đất ở do nhà bà H xây dựng còn 2,34m² bà T, ông N được sử dụng nhưng không được sang bìa đỏ do bìa đất nhà bà H đã vẽ thẳng rồi chờ giải quyết đất nhà ông H1 để khỏi vẽ và làm lại. Để được sử dụng 2,34m² đất ở của nhà bà H cho đến khi giải quyết ốt ông H1 nên bà đồng ý trả cho bà H số tiền 5.416.000 đồng theo giá đất ở hiện hành mà không được đưa vào bìa khi chưa giải quyết ốt ông H1. Vì vậy 02 nhà có trách nhiệm, cùng giải quyết về đất ông H1 để bìa đất thống nhất vẽ thẳng. Nếu ốt ông H1 không giải quyết được thì vĩnh viễn hai gia đình phải giữ nguyên hiện trạng đã có.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 07/12/2023 bà T trình bày: Vợ chồng bà mua thửa đất đó năm 2000, đặt cọc năm 1999 (30.000.000 đồng). Đến năm 2000 thì trả số tiền 62.000.000 đồng, khi đó có giấy tờ mua bán, biên nhận tiền nhưng nay đã thất lạc. Mua xong thì năm 2000 vợ chồng bà xây nhà, khi đó vợ chồng bà H và ông K1 đã xây nhà từ năm 1999. Về số tiền 5.416.000 đồng giao cho bà H vào thời điểm đó là do bà H tự tính số tiền chênh lệch đất mặt sau chỗ khoảng 2,34m² và 5m đất ông H1. Bà H chia theo kiểu giá đất mặt tiền và mặt sau đất lúc đó mới ra số tiền trên. Bà T chấp nhận được sử dụng số diện tích đất 2,34m² + 5m² với thời gian lâu dài, khi đó không đòi hỏi vô bìa vì đất xéo không thích. Khi đó cũng rất mong muốn được giải quyết đất ông H1. Cả hai nhà cùng giải quyết vì nếu một mình bản thân không làm được. Vì vậy, mới lập hai biên bản thỏa thuận. Về hiện trạng khi mua đất đặt cọc từ năm 1999 đến năm 2000 xong thì mặt tiền đã thống nhất chia đôi như hiện trạng đã có từ trước nên năm 2004 lập biên bản thỏa thuận thì hiện trạng đã có rồi và hiện trạng này vẫn giữ nguyên hiện trạng ở mặt trước thửa đất của hai gia đình. Đến năm 2004, sau khi có thỏa thuận thì bà T xây thêm 01 bức tường giáp tường ốt quán bà H còn trước ốt quán gia đình bà T đưa vào tường bà H (tường phía đông). Còn bờ tường của 2,34m² phía Nam của góc vê 2,34m² là tường nhà của bà H, do bà H xây từ năm 1999 khi làm nhà. Số tiền 5.416.000 đồng bà H nhận là số tiền chung của cả hai vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, nhưng do nay đã ly hôn, không muốn liên quan đến ông N và vụ án tranh chấp nêu trên, bà T chấp nhận từ bỏ hoàn toàn quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến số tiền tranh chấp kể cả số tiền trượt giá cho đến nay và giao cho ông N toàn quyền quyết định.
- - Ông Vũ Quang H1 trình bày: Gia đình ông có ki ốt tại vị trí giáp ranh với thửa đất số 173 tờ bản đồ số 7 đã cấp cho hộ ông Nguyễn Bá N và bà Phan Thị T. Ki ốt này gia đình ông sử dụng từ khoảng năm 1986 đến nay. Ông đề nghị không đưa ông tham gia vụ án với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan do ông không có liên quan gì đến tranh chấp. Nếu Toà án đưa theo qui định thì đề nghị làm theo đúng pháp luật và đề nghị Toà án giải quyết, xét xử vắng mặt ông.
Người làm chứng Ông Phan Văn T3 và Nguyễn Thị T1 trình bày: Năm 1995 vợ, chồng ông, bà được UBND huyện Y cấp thửa đất 173 tại khối A Thị trấn Y để làm nhà ở lâu dài. Về ranh giới thửa đất phía đông giáp bà Phan Thị H và ông Võ Thành K là một đường thẳng kéo dài từ Hạt giao thông 371 tới đường E (Nay là đường G). Năm 1997 ông, bà đã bán thửa đất cho ông Nguyễn Bá N và bà Phan Thị T đúng như sơ đồ địa giới đã nêu trên. Hiện nay ông K, bà H đã làm nhà theo đúng ranh giới của hai thửa đất 173 và 174. Hiện ông N đang sử dụng 2,34m² đất dưới vê nhà ông K, đất đó là đất ông K. Ngày 06/12/2023 bà T1 có thay đổi nội dung xác nhận là ngày 20/6/1999 vợ, chồng bà bán thửa đất đó cho ông N, bà T đúng như tờ bản đồ số 7.
Người làm chứng ông Lê Văn T2 nguyên cán bộ địa chính Thị Trấn có trình bày: Theo sơ đồ địa chính giáp ranh giữa 2 hộ gia đình, 2 thửa đất 173 và 174 chia đôi thành một đường thẳng phía bắc giáp đường E (cũ) nay là đường G. Theo văn bản thỏa thuận ngày 22/12/2004 bà H cho bà T (vợ cũ ông N) thuê 5m² đất liền kề nhà đường E (cũ) nay là đường G để làm ốt kinh doanh số tiền: 5.416.000 đồng hiện ông N đang sử dụng, Bà H vẫn nộp tiền thuế đất hàng năm.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 07/2020/DSST ngày 14/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, xử: Không chấp nhận yêu khởi kiện của ông Nguyễn Bá N buộc ông Võ Văn K1 và bà Phan Thị H trả 2.34m² đất lấn chiếm. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Bá N buộc ông Võ Văn K1 và bà Phan Thị H hoàn trả lại cho ông N số tiền 5.416.000 đồng. Ngoài ra Bản án còn tuyên quyền kháng cáo; về án phí; chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: ông Nguyễn Bá N phải chịu.
Ngày 22/7/2020, ông Nguyễn Bá N kháng cáo với nội dung buộc ông Võ Văn K1, bà Phan Thị H trả lại 2.34m² đất lấn chiếm và hoàn trả lại cho ông N số tiền 5.416.000 đồng cùng với tiền trượt giá theo giá đất năm 2004 đến nay.
Tại bản án số 17/2021/DS-PT ngày 27/4/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An quyết định, xử: Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2020/ DS-ST ngày 14/7/2020 của Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, giữa nguyên đơn ông Nguyễn Bá N với bị đơn ông Võ Văn K1 và bà Phan Thị H. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Yên thành để giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm với lý do: Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm xác minh thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, xem xét thẩm định tại chỗ chưa đúng yêu cầu của nguyên đơn, không đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia vụ án mà tại phiên tòa phúc thẩm không bổ sung được.
Ngày 19/11/2021, Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An đã thụ lý giải quyết lại vụ án với các nội dung: ông Nguyễn Bá N yêu cầu Tòa án buộc ông Võ Văn K1 và bà Phan Thị H trả lại 2,34 m² đất, ra quyết định vẽ, cấp bìa đất cho gia đình ông theo đúng hiện trạng sử dụng và yêu cầu trả lại số tiền 5.416.000 đồng và tiền trượt giá từ năm 2004 đến nay.
Quá trình giải quyết vụ án, ông N rút yêu cầu buộc ông K1, bà H trả lại 2,34m² đất và ra quyết định vẽ cấp bìa cho gia đình ông theo đúng hiện trạng sử dụng và bổ sung yêu cầu khởi kiện mới, cụ thể đề nghị Tòa án giải quyết:
- - Buộc ông K1 và bà H phải tháo dỡ phần vê nhà của ông K1, bà H tương ứng với diện tích 2,34m² để trả lại không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng đã xâm lấn sang phần đất của gia đình ông N vì phần đất của ông sử dụng từ năm 1997 tới nay;
- - Buộc ông K1, bà H phải trả lại cho nguyên đơn ông Nguyễn Bá N số tiền 5.416.000 đồng theo trượt giá đất tính từ ngày 21/12/2004 đến khi xét xử sơ thẩm vụ án là 250.000.000 đồng;
- - Buộc ông K1, bà H trả cho ông số tiền đã chiếm dụng mặt tiền tầng 2 của gia đình nguyên đơn để sử dụng từ tháng 9/1999 đến tháng 6/2023 là 2,34m² x 400.000 đồng x 225 tháng = 210.600.000 đồng.
Quá trình giải quyết lại vụ án, Toà án đã nhiều lần thu thập về hồ sơ nguồn gốc quyền sử dụng đất, hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của 02 thửa đất tranh chấp nhưng không thu thập được do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Y lưu trữ hồ sơ không đầy đủ.
Tại các biên bản xác minh gốc sử dụng đất ngày 08/7/2020 của hai hộ thể hiện: Theo bản đồ 299 (bản đồ giải thửa) thì thửa đất của hộ ông N và ông K1 không thể hiện trên bản đồ mà thuộc đất của tổ chức (Nay là hạt giao thông quản lý đường bộ); Qua kiểm tra sổ mục kê cũng không thấy thể hiện thửa đất, diện tích của hai hộ ông N và ông K1.
Tại Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 06/9/2023 thể hiện:
- - Vị trí thửa đất 173 và 174 tờ bản đồ số 07 không có thay đổi. Nhưng về hình thể thửa đất và diện tích thửa đất có thay đổi không đúng, không giống với hình thể thửa đất trước đây đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Xác định vị trí tranh chấp có 2,40m² đất chồng lấn.
- - Về tài sản gắn liền với các thửa đất 173 và 174: Hiện trên các thửa đất đều có công trình nhà cấp 4, hai tầng, phía trước 2 nhà đều có ki ốt, mặt bằng kinh doanh, phía sau nhà 02 tầng là công trình phụ, bếp, bể nước...
- - Diện tích thửa đất 173 theo hiện trạng đo đạc được là: 129,9m² và thửa 174 đất theo hiện trạng đo được: 135,6m². Người đang sử dụng, quản lý tài sản gắn liền thửa 173 là ông Nguyễn Bá N. Người đang sử dụng, quản lý tài sản gắn liền thửa 174 là vợ chồng Võ Thành K, bà Phan Thị H.
- - Đối với thửa đất số 174 Phía Bắc giáp Quốc lộ G và Giáp phía Nam phần đất (ki ốt) ông N có chiều dài chia làm 2 đoạn: Đoạn thứ nhất Giáp Quốc lộ G kéo từ Đ - Tây có chiều dài 5,78 mét. Đoạn thứ hai Giáp phía Nam phần đất (ki ốt) ông N đang sử dụng. Sau khi kéo dài từ Bắc – Nam 3,46m tiếp tục kéo dài từ Đông –Tây có chiều dài 1,64m. Phía trước công trình tại thửa đất số 174 (phía Bắc giáp Quốc lộc G) có một phần via của nhà 2 tầng, nằm phía trên phần đất Ki ốt ông N đang quản lý, sử dụng có diện tích 2,40 m². Cụ thể: Phía đông có chiều dài 1,39 mét, phía Tây có chiều dài 1,39 mét, Phía Nam có chiều dài 1,64 mét và Phía Bắc có chiều dài 1,76 mét.
- - Nằm trên phần đất của ông Nguyễn Bá N đang quản lý và sử dụng, phía sau công trình (Phía Nam), có thể hiện móng công trình rộng 06cm (tức rộng hơn mép tường nhà ông K 06cm), giáp hai công trình phần có nhà ở của hai hộ có khe hở 12cm và các phần tiếp giáp còn lại là tường xây cũng là Nhà của ông K bà H; Phần ki ốt có diện tích chồng lấn Via có hai tường nhà xây riêng ở phía đông thửa đất ông N, còn phía bắc thửa đất ông K chỉ có 01 tường chính là tường nhà ông K đang ở.
- - Đối với phần đất có Ki ốt của ông Vũ Quang H1: Kiot được nằm trên phần đất không có số thửa đất, có vị trí tường giáp mặt phía Bắc và phía Tây của thửa đất số 173; có diện tích đo đạc được là: 11,8 m². Trong đó P chồng lấn Via của nhà ông N 2,6m², P thuộc chỉ giới qui hoạch giao thông 5,2m² và phần còn lại 4m².
Với nội dung trên, Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 12/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An đã Quyết định:
Căn cứ Điều 688 Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết 45/2005/NQ-QH11, ngày 14/6/2005 của Quốc hội, Nghị quyết về việc thi hành Bộ luật dân sự 2005; Điều 141, 270, 271, 272 của Bộ luật dân sự năm 1995; Điều 135, 136, 105 và điều 107 Luật đất đai 2003; khoản 2, 3, 9 điều 26, điều 35, điều 39, khoản 1 Điều 147 khoản 1 Điều 157, Điều 158, Điều 228, Điều 271, Điều 273 và khoản 1, 2 điểu 244 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 12, điều 14, khoản 1, 2 điều 26, điểm a khoản 2 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Bá N về việc yêu cầu giải quyết việc tranh chấp 2,34m² đất đối với bị đơn. Cụ thể: Xác định và công nhận ranh giới giữa hai thửa đất 173 và 174 tại phần đất tranh chấp 2,40m² đúng như hiện trạng hiện tại và theo đúng sơ đồ hiện trạng thửa đất số 173 + 174, tờ bản đồ địa chính số YT-7 thuộc bản đồ địa chính Thị trấn Y, huyện Y đã được chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Y xác nhận ngày 29/11/2023 (có sơ đồ kèm theo).
- Công nhận cho ông Nguyễn Bá N được quyền sử dụng không gian trên mặt đất theo chiều thẳng đứng đối với phần đất tranh chấp có diện tích 2,40m² tại vị trí có diện tích đất tranh chấp là 2,40m² theo sơ đồ hiện trạng thửa đất số 173 + 174 nêu trên.
- Buộc ông Võ Thành K (tên gọi khác: Võ Văn K1) và bà Phan Thị H phải tháo dỡ toàn bộ phần công trình đã xây dựng chồng lấn, chiếm không gian trên mặt đất theo chiều thẳng đứng tại vị trí có diện tích đất tranh chấp là 2,40m² theo sơ đồ hiện trạng thửa đất số 173 + 174 gồm: Phần sàn pê tông (vê (mái hiên nhà) tầng 1) tại tầng 1 và phần mái tôn tại tầng 2 tại phía trên mặt đất là phần không gian của phần đất có vị trí 2,40m² đang tranh chấp có kích thước phía Đông giáp tường ốt nhà ông K1, Bà H: 1,39m kéo từ Bắc - N; phía Nam giáp tường nhà 2 tầng của ông K1, Bà H: 1,64m kéo từ Đ - T; phía Bắc và phía Tây kích thước theo sơ đồ (Công trình tháo dỡ chiều thẳng đứng của ranh giới đất đã được xác định theo sơ đồ kèm theo) để trả lại cho ông Nguyễn Bá N được quyền sử dụng không gian và lòng đất chiều thẳng đứng từ ranh giới đã xác định nêu trên trong khuôn viên đất phù hợp với qui hoạch xây dựng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền qui định và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất liền kề của người khác.
- Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu buộc ông K1, bà H trả lại số tiền: 5.416.000 đồng (Năm triệu bốn trăm mười sáu nghìn) cùng với trượt giá từ 2004 đến nay là 250.000.000 đồng do chưa đủ điều kiện khởi kiện. Nội dung này nguyên đơn được quyền khởi kiện bằng vụ án khác khi đủ điều kiện khởi kiện theo qui định.
- Đối với yêu cầu buộc nhà ông K1, bà H trả lại số tiền đã chiếm dụng mặt tiền tầng 2 nhà ông để sử dụng từ tháng 9/1999 đến nay là 210.600.000 đồng. Do nguyên đơn yêu cầu là vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên không chấp nhận giải quyết trong cùng vụ án này. Nguyên đơn có quyền khởi kiện bằng vụ án khác nếu có căn cứ theo qui định của pháp luật.
- Không chấp nhận yêu cầu được nhận lại tiền thẩm định tại do Tòa chưa xem xét đúng thực chất của vụ án. Do tại hồ sơ vụ án không thể hiện biên bản giao nhận khoản tiền tạm ứng án phí, chi phí tố tụng cũng như biên bản thanh quyết toán khoản tiền này nên không có căn cứ xử lý trong vụ án.
- Đình chỉ việc giải quyết yêu cầu trả lại cho gia đình ông Nguyễn Bá N 2,34m²đất do nguyên đơn đã rút một phần yêu cầu khởi kiện này. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại đối với yêu cần này theo qui định.
- Về chi phí xem xét, thẩm định giá: Bị đơn phải chịu chi phí thẩm định tại chỗ là 2.814.000 đồng. Số tiền này nguyên đơn đã nộp đủ nên ông Võ Thành K và bà Phan Thị H phải liên đới có nghĩa vụ phải thanh toán cho ông N số tiền 2.814.000 đồng (Hai triệu tám trăm mười bốn nghìn đồng).
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên án phí, lãi suất chậm thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 25/01/2024, nguyên đơn ông Nguyễn Bá N kháng cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm giải quyết các vấn đề sau:
- Buộc gia đình ông K, bà H trả lại số tiền 5.416.000 đồng theo trượt giá đất từ năm 2004 đến khi tòa giải quyết vụ án là 250.000.000 đồng.
- Buộc gia đình ông K, bà H trả lại số tiền đã chiếm dụng mặt tiền tầng hai nhà ông N để sử dụng từ tháng 9/1999 đến nay là: 2,4m² × 400.000 đồng × 225 tháng = 210.600.000 đồng (hai trăm mười triệu sáu trăm ngàn đồng) cho ông N.
- Buộc ông Hồ Sỹ C nguyên là thẩm phán tòa án Yên T4 trả lại cho ông N 3.000.000 tiền thẩm định đất 2,34m².
Ngày 22/01/2024, ông K và bà H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Ngày 25/01/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên thành, tỉnh Nghệ An kháng nghị bản án sơ thẩm, cho rằng:
- Tòa án thụ lý vụ án không đúng thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Giải quyết vụ án vượt quá yêu cầu phạm vi khởi kiện của nguyên đơn và không đúng quy định của pháp luật
- Điều tra xác minh chưa đầy đủ
- Quyết định của Bản án chưa đầy đủ, gây khó khăn cho công tác thi hành án.
- Bản án không quyết định trả lại số tiền tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ còn dư (thừa) cho đương sự.
Như vậy, bản án dân sự sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng pháp luật dân sự. Cần áp dụng khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 sửa bản án dân sự sơ thẩm theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn, bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Tại phiên toà phúc thẩm, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh nghệ A đề nghị HĐXX chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện KSND huyện Y, tỉnh Nghệ An, chấp nhận kháng cáo của bị đơn, áp dụng khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 hủy bản án sơ thẩm để điều tra, giải quyết lại theo thủ tục chung.
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến trình bày của các đương sự, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa và quy định của pháp luật;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về sự vắng mặt của đương sự: Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng tại phiên tòa vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
[2] Xét Kháng nghị của Viện kiểm sát cho rằng Tòa án thụ lý vụ án không đúng thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật. Thấy rằng: Theo đơn khởi kiện ông N yêu cầu ông Võ Văn K1 và bà Phan Thị H trả lại 2,34m² đất lấn chiếm và yêu cầu ra quyết định vẽ, cấp bìa cho gia đình ông N. Căn cứ Điều 105 Luật đất đai năm 2013 thì việc đo vẽ, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền của UBNB cấp huyệ, không thuộc thẩm quyền của Tòa án. Tại Thông báo về việc thụ lý vụ án số 46/TB-TLTA ngày 26/8/2019 và Thông báo về việc thụ lý vụ án số 86/TB-TLTA ngày 19/11/2021, Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An thụ lý yêu cầu “... Ra quyết định vẽ, cấp bìa đất cho gia đình Năm theo đúng hiện trạng sử dụng...” là không đúng thẩm quyền. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm, nguyên đơn đã rút yêu cầu nêu trên nhưng bản án sơ thẩm không nhận định, quyết định gì về yêu cầu nêu trên của đương sự là thiếu sót, cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm. Việc rút yêu cầu của ông N là tự nguyện nên áp dụng Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ giải quyết yêu cầu này của ông N.
[3] Đối với kháng cáo của ông Võ Văn K1, bà Phan Thị H về việc giải quyết tranh chấp 2,40m² và tháo dỡ tài sản trên diện tích 2.40m² để trả lại không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng cho ông Nguyễn Bá N.
Xét nguồn gốc thửa đất của ông K1, bà H và của bà T1 đều được giao theo thông báo số 45-TB/UB ngày 25/3/1995 của UBND huyện Y với diện tích 89m². Đến năm 1998, thửa của bà T1 được đánh số thửa 173; thửa của ông K1, bà H được đánh số 174. Năm 1998, UBND thị trấn Y phối hợp với UBND huyện Y tiến hành đo vẽ sơ đồ, xác định ranh giới, mốc giới các thửa đất. Tại Biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 14/6/1998 thể hiện ranh giới giữa thửa đất số 173 và 174 là một đường thẳng, bản thân bà T1 là người ký văn bản xác nhận. Năm 1999, vợ chồng ông K1 bà H tiến hành làm nhà kiên cố trên thửa 174 và sinh sống ổn định từ đó đến nay.
Đối với thửa 173. Vào tháng 12/1999 (khi đó ông N và bà T đang là vợ chồng), bà Nguyễn Thị T1 chuyển nhượng cho vợ chồng ông N, bà T diện tích 56,5m² đất mà bà T1 được giao theo thông báo số 45 TB/UB ngày 25/3/1995. Khi chuyển nhượng hai bên có lập hợp đồng và được được UBND huyện xác nhận vào tháng 04/2000. Tháng 10/2004, bà Nguyễn Thị T1 chuyển nhượng tiếp cho vợ chồng ông N, bà T diện tích 32,5m² đất mà bà T1 được giao theo thông báo số 45-TB/UB ngày 25/3/1995. Khi chuyển nhượng hai bên cũng lập hợp đồng và được UBND huyện xác nhận vào tháng 11/2004. Tổng diện tích cả 2 lần ông N bà Thu nhận chuyển nhượng là 89m², đúng với diện tích mà bà T1 được giao theo thông báo số 45-TB/UB ngày 25/3/1995. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà T1 cũng thừa nhận bà T1 chuyển nhượng đất cho ông N, bà T vào cuối năm 1999, ông K1, bà H xây nhà trước khi bà T1 chuyển nhượng đất cho bà T, ông N và xác định phần diện tích đất dưới via nhà ông K1 mà các bên đang tranh chấp là của ông K1, bà H. Tại bản tự khai ngày 07/12/2023 bà T trình bày: Vợ chồng bà mua thửa đất đó năm 2000, đặt cọc năm 1999 (30.000.000 đồng). Ông N cho rằng vợ chồng ông nhận chuyển nhượng thửa đất số 173 của ông T3 và bà T1 vào năm 1997 nhưng không có chứng cứ chứng minh.
Như vậy, phần đất và vê nhà của ông K1, bà H được hình thành trước khi bà T1 chuyển nhượng cho bà T, ông N. Quá trình sử dụng giữa vợ chồng bà T1 và ông K1, bà H không có tranh chấp về vấn đề này, bà T1, ông T3 cũng thừa nhận phần diện tích 2,40m² đang tranh chấp là của ông K1, bà H. Trong hai hợp đồng chuyển nhượng giữa bà T1 và ông N, bà T không thể hiện trong diện tích đất chuyển nhượng cho ông N, bà T có 2,40m² ông K1, bà H đã sử dụng xây vê của tầng 2. Vì vậy nhà ông N cho rằng diện tích đất tranh chấp 2,40m² là của ông là không có căn cứ.
[4] Tháng 12/2004, vợ chồng ông K1, bà H được UBND huyện xử lý diện tích tăng thêm là 23m². Ngày 28/12/2004, ông K1 bà H được UBND huyện Y cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 170705 đối với thửa 174 với diện tích 129m². Tháng 12/2004, vợ chồng ông N, bà T được UBND huyện xử lý diện tích tăng thêm là 23m² (Thông báo số 153/TB.UB ngày 21/12/2004). Ngày 11/3/2005, ông N, bà T được UBND huyện Y cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 170738 đối với thửa 173 với diện tích 112m². Cả hai Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông N và của ông K1, bà H đều đã bị huỷ và thu hồi theo Quyết định 1868/QĐ-UBND ngày 30/6/2009 của UBND huyện Y với lý do Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp của 02 hộ không đúng với diện tích và hình thể thửa đất đang sử dụng. Đến nay việc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N và vợ chồng ông K1, bà H vẫn chưa thực hiện được. Vì vậy chưa đủ căn cứ để cho rằng diện tích 2,40m² đang tranh chấp là của ông N. Cho nên ông N khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông K1, bà H tháo dỡ phần Vê của ngôi nhà là không được chấp nhận. Chấp nhận phần kháng cáo này của ông K1, bà H để sửa bản án sơ thẩm.
[5] Về kháng cáo đối với yêu cầu khởi kiện buộc ông K1, bà H phải trả lại cho ông Nguyễn Bá N số tiền 5.416.000 đồng theo trượt giá đất tính từ ngày 21/12/2004 đến khi xét xử sơ thẩm vụ án là 250.000.000 đồng. Thấy rằng:
Giấy thoả thuận đề ngày 21/12/2004 giữa bà Phan Thị Hồng T và bà Phan Thị H có các nội dung: “Hiện nay ốt ông H1 đang sử dụng 10m² đất của lô 173 nên đất lưu không bị lệch, do đó tôi thoả thuận đất lưu không còn lại chia đôi (như hiện trạng đã có). Vậy T xây lại quán phải xây riêng tường quán (Không được chung tường nào). Khi nào giải quyết được quán ông H1 thì chia như bìa đất (Cùng giải quyết, cùng chia) ngày 21-12-2004. Người làm giấy: Phan Thị H.
Bà H nhận số tiền chênh lệch đất mặt sau + số tiền 5m² đất ông H1 theo giá hiện hành (Chưa nhận tiền).
H nhận đủ số tiền là: 5.416.000 (Năm triệu bốn trăm mười sáu ngàn)”.
Biên bản thoả thuận ngày 22/12/2004 có nội dung: “Hiện tại quán ông: Vũ Văn H2 đang sử dụng tạm thời 10m²(Mười mét vuông) đất quán trên lô đất thửa 173. Nên so với tiêu chuẩn đất của hai hộ gia đình phần bám đường bị lệch so với giấy tờ. Do vậy phần đất bám đường của hai hộ bà H và bà T là chia đôi như hiện trạng đã có. Khi nào giải quyết xong quán ông H2 thì phần lưu không của hai hộ sẽ được chia đôi theo giấy tờ của từng hộ mà giấy tờ của từng hộ đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Khi bà T xây lại ốt trừ phần tường từ nhà đến tường ốt từ 5 đến 10cm (T5 quán chị T đến T nhà chị H.) Còn phần chênh lệch diện tích của bà H và bà T: 10m² ông H2 được chia đôi. Mỗi hộ phải chịu 5m²(Năm mét vuông). Bà H đã nhận đủ số tiền là: 5.416.000 (Năm triệu bốn trăm mười sáu ngàn đồng). Vậy ban địa chính đã lập biên bản thoả thuận giữa hai hộ gia đình. Văn bản lập xong đã đọc lại cho hai hộ cùng nghe và ký tên, nhận trách nhiệm, nếu có gì sai so với thoả thuận thì UBND thị không chịu trách nhiệm so với hai hộ gia đình. Sau khi ốt ông H2 giải quyết thì hai hộ cùng giải quyết./.”
Theo hai văn bản trên thì giữa bà H và bà T thoả thuận với nhau về đất lưu không và ốt của ông H2 nằm trên đất lưu không, chứ không phải thoả thuận trong phần diện tích đất đã được Nhà nước giao là 89m². Tại phần tái bút của sơ đồ mảnh đất cung đường ĐT 538 ngày 01/4/1994 cũng thể hiện quán của ông H2 tiếp giáp cơ quan trạm điện ở trên phần đất giao thông. Theo bản đồ 1998, thì quán của ông H2 nằm trên thửa 173, nhưng hiện tại ông N chưa được cấp quyền sử dụng đất đối với thửa 173. Khi thoả thuận và giao tiền là do bà T tiến hành. Bà T cho rằng bà đồng ý trả tiền cho bà H để tận dụng đất mặt tiền để kinh doanh gồm 5m² đất lưu không và phần đất dưới vê nhà bà H. Bà không có yêu cầu gì. Như vậy việc thỏa thuận của bà T là ngoài diện tích mà bà T và ông N nhận chuyển nhượng của bà T1. Nay bà T không có ý kiến gì. Mặt khác, bà H và bà T thỏa thuận bà T giao tiền cho bà H để bà T sử dụng phần đất bám mặt đường phía trước nhà bà H, sau khi ốt ông H2 giải quyết thì hai hộ cùng giải quyết, tuy nhiên hiện nay ông N vẫn đang sử dụng phần diện tích theo thỏa thuận của bà T và bà H nên không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện và kháng cáo của ông N về nội dung này.
[6] Đối với kháng cáo yêu cầu buộc gia đình ông K1, bà H trả cho ông N số tiền đã chiếm dụng mặt tiền tầng 2 của gia đình nguyên đơn để sử dụng từ tháng 9/1999 đến tháng 6/2023 là 2,34m² x 400.000 đồng x 225 tháng = 210.600.000 đồng. Như đã phân tích ở các mục trên là chưa đủ căn cứ để xác định 2,40m² là của ông N nên nội dung khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông K1 tháo dỡ phần Vê để trả lại không gian và lòng đất của 2,34m² cho ông N là không được chấp nhận. Vì vậy yêu cầu của ông N buộc gia đình ông K1, bà H trả cho ông N số tiền đã chiếm dụng mặt tiền tầng 2 của gia đình nguyên đơn để sử dụng từ tháng 9/1999 đến tháng 6/2023 là 2,34m² x 400.000 đồng x 225 tháng = 210.600.000 đồng cũng không có căn cứ. Không chấp nhận nội dung kháng cáo của ông N.
[7] Đối với kháng cáo yêu cầu buộc ông Hồ Sỹ C nguyên là thẩm phán Tòa án Yên T4 trả lại cho ông N số tiền 3.000.000 tiền thẩm định đất 2,34m² và kháng nghị của Viện kiểm sát về việc Tòa án cấp sơ thẩm quyết định về số tiền này là vượt quá phạm vi khởi kiện. Lý do ông N yêu cầu trả lại là do Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa đã xem xét sai lệch thực chất vụ án, nên đã bị Tòa án tỉnh Nghệ An hủy vì vậy phải trả lại tiền thẩm định. Khi ông thẩm phán C thẩm định chỉ có 2,34m² là sai lệch so với Thẩm phán Ngô Văn P1 là 2,40m².
Thấy rằng: Ngày 09/3/2020, ông N có đơn yêu cầu xem xét thẩm định tại chỗ và nộp 3.000.000 đồng chi phí. Theo quy định của pháp luật, khi thu chi số tiền chi phí thẩm định Toà án phải ghi rõ trong bản án, nhưng do không có biên bản giao nhận và thanh quyết toán số tiền này, nên đã không thể hiện trong bản án. Tuy nhiên sau khi thu chi phí thẩm định thì ngày 12/5/2020 Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định theo quy định quy định. Xác nhận của Thẩm phán Hồ Sỹ C thể hiện chi phí xem xét thẩm định là 3.000.000 đồng, ông N đã nộp. Việc xem xét thẩm định tại chỗ đã thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông N nên ông N yêu cầu trả lại là không có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét để buộc đương sự phải chịu chi phí xem xét thẩm định này là thiếu sót cần rút kinh nghiệm.
[8] Đối với chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản lần 02: Quá trình giải quyết lại vụ án, Tòa án tiến hành xem xét thẩm định, định giá lần 02, ông N đã nộp tạm ứng chi phí 3.000.000 đồng, Tòa án đã chi phí 2.814.000 đồng, còn thừa 186.000 đồng đã trả lại cho ông N. Việc xem xét thẩm định tài sản và thẩm định định giá lại tài sản là theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Do yêu cầu của ông N không được chấp nhận nên ông N phải chịu chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản.
[9] Từ các phân tích trên Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ nội dung khởi kiện của ông Nguyễn Bá N, chấp nhận một phần nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành; chấp nhận kháng cáo của ông K1, bà H; sửa bản án sơ thẩm.
[10] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện và kháng cáo của ông N không được chấp nhận nên ông N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên tại thời điểm xét xử phúc thẩm, ông N là người cao tuổi, có đơn đề nghị miễn án phí nên miễn án phí cho ông N.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Bá N, chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An; chấp nhận kháng cáo của ông Võ Văn K1, bà Phan Thị H. Sửa bản án sơ thẩm.
2. Áp dụng Điều 26; 147, 148; 200, 202, 227, 228, 244 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 117, 265, 266, 267 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 105, 107, 136 Luật đất đai năm 2003 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:
- - Không chấp nhận nội dung khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Bá N đối với các yêu cầu:
- + Buộc bị đơn ông Võ Văn K1 (Võ Thành K), bà Phan Thị H phải tháo dỡ phần vê nhà của ông K, bà H tương ứng với diện tích 2,34m² để trả lại không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng đã xâm lấn sang phần đất của gia đình ông N vì phần đất của ông sử dụng từ năm 1997 tới nay;
- + Buộc bị đơn là ông Võ Văn K1 (Võ Thành K), bà Phan Thị H phải trả lại cho nguyên đơn là ông Nguyễn Bá N số tiền 5.416.000 đồng theo trượt giá đất tính từ ngày 21/12/2004 đến khi xét xử sơ thẩm vụ án là 250.000.000 đồng;
- + Buộc gia đình ông Võ Văn K1 (Võ Thành K), bà Phan Thị H trả cho ông số tiền đã chiếm dụng mặt tiền tầng 2 của gia đình nguyên đơn để sử dụng từ tháng 9/1999 đến tháng 6/2023 là 2,34m² x 400.000 đồng x 225 tháng = 210.600 đồng.
- - Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Bá N về việc buộc ông ông Võ Văn K1 (Võ Thành K), bà Phan Thị H trả lại cho gia đình ông 2,34 m² đất và yêu cầu ra quyết định vẽ, cấp bìa đất cho gia đình ông theo đúng hiện trạng sử dụng.
3. Về chi phi xem xét thẩm định và định giá tài sản: Ông Nguyễn Bá N phải chịu số tiền chi phí thẩm định, định giá 02 lần là 5.814.000 đồng. Ông N đã nộp đủ.
4. Về án phí: Miễn án phí dân sự phúc thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho ông N. Hoàn trả cho ông N số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 600.000 đồng và tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000034 ngày 26/8/2019, số 0000370 ngày 12/3/2020 và số 0002552 ngày 15/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
5. Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều các 6, 7, 7a, 7b và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Từ |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Thị Hải Minh Trần Thị Mỹ Hải | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Từ |
Bản án số 117/2024/DS-PT ngày 23/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 117/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/10/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất Nguyễn Bá N - Võ Thành K
