Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 117/2023/HS-PT

Ngày: 06/12/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn
  • - Các thẩm phán: Bà Huỳnh Thị Xuân Oanh
  • Bà Võ Thị Trâm

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Ánh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Thành – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 109/2023/TLPT-HS ngày 05 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 136/2023/QĐXXPT-HS ngày 13 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo Huỳnh Thị Lệ P có kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thị Lệ P1 với bản án hình sự sơ thẩm số: 29/2023/HSST ngày 23 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.

- Bị cáo có kháng cáo:

Huỳnh Thị Lệ P2(Tên gọi khác: Bé) – sinh năm: 1983 tại Khánh Hòa; Nơi cư trú: Tổ dân phố P, thị trấn D, huyện D, tỉnh Khánh Hòagiới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 9/12; con ông Huỳnh N(chết) và bà Phạm Thị N1(chết); có chồng là Phùng Quốc K(sinh năm 1980); bị cáo có 02 con, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra trong vụ án còn có các bị cáo khác, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không liên quan không kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 05/9/2022, bị cáo Lê Tấn T khiển xe mô tô Wave, biển kiểm soát: 79L4-0336 từ Diên Khánh đến phòng trọ của bị cáo Phạm Thiên L đường P, phường P, thành phố N trộm cắp tài sản, bán lấy tiền tiêu dùng, L1 ý. Cả hai cầm theo đoản phá khóa, đi vòng quanh các đường phố trong địa bàn thành phố N tìm không có tài sản sơ hở để trộm cắp nên cả hai tiếp tục lên địa bàn huyện D tài sản để trộm cắp. Đến khoảng 02 giờ 30 phút ngày 06/9/2022, cả hai đến khu vực xã D, huyện D nhiều lán trại nhưng mọi người đều say ngủ, không có người trông coi. Tdừng xe, lẻn vào khu lán trại còn Lđứng bên ngoài cảnh giới. Vào khu lán trại, thấy anh Nguyễn Văn B ngủ say, để điện thoại di động hiệu Realme màu xanh bên cạnh, T1 lút lấy điện thoại bỏ vào túi. Sau đó, T2 ra khỏi khu lán, nhìn thấy phía trước có dựng một chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, biển kiểm soát: 47U1-055.85 của anh Phạm Văn T3 bị cáo T4 Ldùng đoản phá khóa rồi khởi động xe, điều khiển xe đến nhà Huỳnh Tấn H nhờ Hbán giùm xe mô tô trên. Đến khoảng 7 giờ cùng ngày, bị cáo Huỳnh Hoàng Q nhà bị cáo Huỳnh Tấn H1, H2 có xe Exciter mà người quen vừa trộm được nhờ bán, hỏi Q1 biết ai mua xe không. Qgọi điện thoại cho bị cáo Nguyễn Văn H3 có xe Exciter không có giấy tờ, bán giá 5.000.000 đồng và nói Nguyễn Văn Hllên xem xe. Nghe vậy, Nguyễn Văn H4 đến nhà Huỳnh Tấn H5 xe và đồng ý mua xe với giá 4.700.000 đồng. Huỳnh Tấn H6 lại cho T4.000.000 đồng, đưa cho Q500.000 đồng, còn 200.000 đồng Hcất giữ tiêu xài cá nhân, Tđưa cho bị cáo L2.000.000 đồng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 46/KL-HĐĐGTS ngày 09/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Dkết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yahama, loại Exciter, biển kiểm soát: 47U1- 055.85, trị giá 26.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Realme màu xanh, trị giá 1.500.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định, ngoài vụ trộm cắp tài sản nêu trên, Lê Tấn T5 thực hiện một số vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện D:

  • Vụ thứ 1: Khoảng 01 giờ ngày 10/8/2021, Lê Tấn T6 bộ từ xã D đến xã D tài sản để trộm cắp, khi đến nhà ông Nguyễn Thanh H7(tại thôn Đ, xã D hiện xe máy hiệu Honda, loại AirBlade màu đen đỏ, biển kiểm soát: 79D1-244.83 của ông H2đang dựng trong sân nhà không có người trông giữ, T1 lút lấy trộm xe, đem về nhà cất giấu. Ba ngày sau, ông H2biết T7 sử dụng xe của mình nên đến xin lại xe, Ttrả xe trên cho ông H2Tại Bản kết luận định giá tài sản số 471/KL-HĐĐGTS ngày 23/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Dkết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại AirBlade, màu đen đỏ, biển kiểm soát: 79D1-244.83, trị giá 21.450.000 đồng.
  • Vụ thứ 2: Khoảng 01 giờ ngày 20/8/2021, Lê Tấn T6 bộ từ xã D đến xã S tài sản để trộm cắp, khi đến cây xăng C, xã S hiện phía sau cây xăng dựng nhiều xe mô tô không có người trông giữ, T8 khóa lấy trộm xe Exciter màu đen, biển kiểm soát: 79D1551.18 của ông Trương Kim T9 đó, Tthay biển kiểm soát 79D1551.18 bằng biển kiểm soát 79Z1-590.73 mà Tnhặt được trước đó và sử dụng làm phương tiện đi lại. Đến ngày 31/8/2021, xe mô tô trên đã bị công an xã D khi Tđiều khiển xe qua chốt kiểm dịch Covid 19 tại xã D kết luận định giá tài sản số 471/KL-HĐĐGTS ngày 23/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Dkết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu đen, biển kiểm soát: 79D1-551.18, trị giá 25.800.000 đồng.
  • Vụ thứ 3: Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 10/10/2021, Lê Tấn T10 khu vực thôn Đ, xã D trong sân nhà bà Nguyễn Thị T11 d01 xe Vision màu xanh, biển kiểm soát: 79N2-234.50 không có người trông coi, Ttrèo cổng vào bên trong, thấy xe cắm sẵn chìa khóa nên dắt trộm xe, nổ máy bỏ chạy. Sau đó, T12 người bạn quen biết ngoài xã hội tên “B1(chưa xác định nhân thân, lai lịch) bán chiếc xe trên được 5.000.000 đồng. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 471/KL-HĐĐGTS ngày 23/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Dkết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu xanh, biển kiểm soát: 79N2-234.50, trị giá 21.600.000 đồng.
  • Vụ thứ 4: Khoảng 18 giờ ngày 16/10/2021, T6 bộ đến thôn H, xã D tài sản để trộm cắp, T13 hiện 01 xe Wave RSX màu đen, biển kiểm soát: 79D1-553.98 của ông Nguyễn K1 N2dựng bên lề đường bê tông không có người trông giữ. Tphá khóa lấy trộm xe đem về nhà cất giấu. Hôm sau, T7 sử dụng xe máy trên thì bị ống N2bắt gặp, Thỏ xe lại chạy trốn, ông N2lấy xe về không trình báo cơ quan công an. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 471/KL-HĐĐGTS ngày 23/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Dkết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, Wave RSX màu đen, biển kiểm soát: 79D1-553.98, trị giá 21.250.000 đồng.
  • Vụ thứ 5: Khoảng 00 giờ ngày 21/11/2021, T4 “Blrủ nhau đi tìm tài sản để trộm cắp, T14 “Bảo” bằng xe Dream (không rõ biển kiểm soát) đi dọc theo tỉnh lộ 2 đến xã Dphát hiện trong trại nuôi gà của ông Nguyễn H8 d101 xe mô tô hiệu AirBlade màu xám, biển kiểm soát: 79V1161.02 và 01 xe mô tô hiệu Vision màu đỏ đen, biển kiểm soát: 79V1-431.80, cửa cổng không khóa, khô có người trông giữ, Tgiấu xe Dream vào bụi cây ven đường rồi phá khóa cả 02 chiếc xe trên, sau đó, T khiển xe AirB1điều khiển xe Vision đi đâu Tkhông rõ. Sau đó, T15 lại khu vực cất giấu xe Dream để lấy xe. Đến ngày 24/11/2021, khi Tsử dụng xe AirBlade nói trên chở “B1” đến xã D hai dừng lại mua nước tại quán của bà Nguyễn Thị D thôn K, xã D, huyện D "B" đã giật thùng tiền của bà D1 chạy. Bà D2 hô và chạy ra chặn được xe của TTvà Blbỏ lại xe tẩu thoát. Công an xã Dđã thu giữ xe mô tô nêu trên. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 471/KL-HĐĐGTS ngày 23/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Dkết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại AirBlade, màu xám đen, biển kiểm soát: 79V1161.02, trị giá 21.500.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu đen đỏ, biển kiểm soát: 79V1-431.80, trị giá 22.750.000 đồng.
  • Vụ thứ 6: Khoảng 02 giờ ngày 06/02/2022, Lê Tấn T6 bộ lòng vòng để tìm tài sản sơ hở trộm cắp, khi đến đoạn đường H thuộc thôn P, xã D, huyện Dphát hiện bên trong trang trại của ông Nguyễn Phan T16 H3đang dựng 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại SH Mode, biển kiểm soát: 47B2-225.64, Tquan sát thấy không có người trông giữ nên lén lút vào bên trong, phá khóa xe rồi điều khiển xe chạy về nhà cất giấu. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, T17 xe trên đến nhà bị cáo Huỳnh Thị Lệ P3 cho P4 giá 10.000.000 đồng. Pbiết rõ là xe trộm cắp, không có giấy tờ nhưng vì ham rẻ và cần phương tiện đi lại nên đồng ý mua, Psử dụng xe trên được một thời gian, sau đó P5 sợ xe vi phạm pháp luật nên rao bán lại trên mạng cho một thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) với giá 8.000.000 đồng. Đến ngày 08/11/2022, P6 lại xe và giao nộp cho Cơ quan cảnh sát điều tra. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 471/KL-HĐĐGTS ngày 23/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Dkết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại SH Mode, màu trắng nâu, biển kiểm soát: 47B2-225.64, trị giá 52.000.000 đồng.
  • Vụ thứ 7: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 29/3/2022, T6 bộ đến khu vực T, xã D hiện 01 xe Exciter màu trắng đỏ, biển kiểm soát: 79H1-618.93 của ông Nguyễn L2 d2trong một lán trại, không có người trông giữ. Tphá khóa, lấy trộm xe, sau đó bán cho người đàn ông tên “H3(chưa xác định được nhân thân lai lịch) được 7.000.000 đồng. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 471/KL-HĐĐGTS ngày 23/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản - Ủy ban nhân dân huyện D: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu đỏ đen, biển kiểm soát: 79H1-618.93, trị giá 31.200.000 đồng.
  • Vụ thứ 8: Khoảng 00 giờ ngày 14/6/2022, Tđi xe Wave màu xanh (chưa rõ biển kiểm soát) khi đến đường A thuộc thôn T, xã D bên trong sân nhà ông Nguyễn T18 T3có để nhiều chậu cây cảnh. Tlén lút vào bên trong, lấy trộm 01 cây khế bonsai, 01 cây kim tiền bonsai, 01 cây dúi bonsai và 01 loa kéo màu đen. Sau đó lần lượt chở về nhà cất giấu. Khoảng 2 tháng sau, T19 cây kim tiền bonsai và cây khế bonsai cho người mua cây dạo được 2.000.000 đồng, bán loa kéo qua mạng cho một người đàn ông không rõ lai lịch được 2.500.000 đồng. Riêng cây dúi bonsai bị chết. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 471/KL-HĐĐGTS ngày 23/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản - Ủy ban nhân dân huyện D: 01 cây khế đường kính gốc khoảng 70cm, cao khoảng 1,2m, tán rộng khoảng 1m, trị giá 3.500.000 đồng; 01 cây dúi đường kính gốc khoảng 35cm, cao khoảng 50cm, tán rộng khoảng 60cm, trị giá 1.050.000 đồng; 01 cây kim tiền (cây sam) đường kính gốc khoảng 20cm, cao khoảng 40cm, tán rộng khoảng 40cm, trị giá 500.000 đồng; 01 loa kéo màu đen, cao khoảng 80cm, trị giá 4.000.000 đồng.

Ngoài ra, Lê Tấn T5 khai nhận: Khoảng đầu năm 2019 và đầu năm 2020, T20 trộm 01 xe AirBlade màu xám tại khu vực thôn T, xã D 01 xe Exciter tại khu vực trường bắn xã D (Tkhông nhớ rõ biển kiểm soát của các xe trên). Tuy nhiên, qua xác minh, khoảng thời gian nêu trên, công an xã D tiếp nhận trường hợp bị hại nào khai báo mất 02 xe như đã nêu ở trên.

Trong quá trình điều tra, các bị cáo Lê Tấn T21 Thiên LHuỳnh Tấn HHuỳnh H9 QNguyễn Văn H1và Huỳnh Thị Lệ P7 thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Bản cáo trạng số 01/CT-VKSDK ngày 27/12/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh truy tố bị cáo Lê Tấn T22 tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự; bị cáo Phạm Thiên L3 tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Huỳnh Tấn HHuỳnh H10 QNguyễn Văn H1và Huỳnh Thị Lệ P8 tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Bản án sơ thẩm số: 29/2023/HSST ngày 23 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa quyết định:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 323; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Huỳnh Thị Lệ P2

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Thị L4 P04 (bốn) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Trong vụ án này Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa đã:

Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm b, g, h khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Tấn T23 phạt bị cáo Lê Tấn T24 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/9/2022.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Thiên L5 phạt bị cáo Phạm Thiên L6 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/9/2022.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 323; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Huỳnh Tấn H11 phạt bị cáo Huỳnh Tấn H12 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, thời hạn tù tính từ ngày 04/8/2023.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 90; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Huỳnh Hoàng Q2 phạt bị cáo Huỳnh Hoàng Q3 (bốn) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 90; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn H13 phạt bị cáo Nguyễn Văn H14 (sáu) tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà cớ” nhưng cho hưởng án treo, buộc bị cáo phải chấp hành thời gian thử thách là 01 (một) năm, kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Nguyễn Văn H1cho Ủy ban nhân dân xã V Ngiám sát, giáo dục.

Ngoài ra, Tòa án sơ thẩm còn quyết định về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 28/8/2023, bị cáo Huỳnh Thị Lệ P9 đơn kháng cáo với nội dung xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin cho được hưởng án treo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị cáo Huỳnh Thị Lệ P2 kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định, nên đơn kháng cáo của bị cáo hợp lệ. Do đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Huỳnh Thị Lệ P2 đã khai nhận những hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với vật chứng đã được thu giữ, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ khác do Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Lệ P2 04 (B2tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương. Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã khắc phục hậu quả, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo có nộp cho Tòa án giấy xác nhận hoàn cảnh khó khăn, là lao động duy nhất trong nhà. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự nhưng cấp sơ thẩm bắt bị cáo phải cách ly xã hội để chấp hành hình phạt tù là không cần thiết. Do đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và buộc bị cáo thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định.

[3] Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào Điều 343; điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự,

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thị Lệ P2 sửa một phần bản án sơ thẩm.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Huỳnh Thị Lệ P2

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Thị L4 P04 (Bốn) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 06 tháng 12 năm 2022);

Giao bị cáo Huỳnh Thị Lệ P10 Ủy ban nhân dân thị trấn D, tỉnh Khánh Hòa giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự 2015.

Trong trường hợp bị cáo Huỳnh Thị Lệ P11 đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

3. Bị cáo Huỳnh Thị Lệ P2 không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT1 -TAND Tối cao TM
  • - TAND Cấp cao tại Đà Nẵng.
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa;
  • - Công an tỉnh Khánh Hòa.
  • - TAND huyện Diên Khánh;
  • - VKSND huyện Diên Khánh;
  • - Công an huyện Diên Khánh;
  • - Chi cục THADS huyện Diên Khánh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ; Án văn; Văn phòng.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 117/2023/HS-PT ngày 06/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về vụ án hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 117/2023/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger