|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 1167/2024/HNGĐ-ST Ngày 17-09-2024 V/v Ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoài
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Võ Văn Dương
- Ông Lê Văn Rồi
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thanh Thi - Thư ký Tòa án án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: không có.
Ngày 17 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 545/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 05 năm 2024, về việc: Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 445/2024/QĐĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 08 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 555/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 08 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1983; địa chỉ: số A, đường N, Khu phố D, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
Bị đơn: bà Trương Thị P, sinh năm 1986; địa chỉ: số A, đường N, Khu phố D, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và các biên bản làm việc tại Tòa án, nguyên đơn ông Nguyễn Thành T trình bày:
Nguyên đơn và bị đơn tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 68, quyển số 01/2015 ngày 06 tháng 08 năm 2015. Đến năm 2018 nguyên đơn và bị đơn phát sinh nhiều mâu thuẩn, bị đơn không chăm sóc gia đình dẫn đến vợ chồng thường xuyên gây gỗ, cãi vã nhau, ngoài ra bị đơn còn hay đi chơi và công khai thể hiện tình cảm với người thứ ba. Mâu thuẫn kéo dài không giải quyết được nên vợ chồng đã sống ly thân cách đây năm năm, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, không còn giao tiếp, nói chuyện với nhau, cuộc sống của ai người ấy tự lo. Nhận thấy tình cảm vợ chồng đã hết, nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn.
Về con chung: nguyên đơn và bị đơn có 02 con chung Nguyễn Quang V, sinh ngày 10 tháng 07 năm 2006 và Nguyễn Thị Kim T1, sinh ngày 18 tháng 05 năm 2007. Nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con.
Quá trình giải quyết vụ án, con chung Nguyễn Thị Kim T1 có nguyện vọng được sống cùng mẹ nên tại phiên họp ngày 02 tháng 08 năm 2024, nguyên đơn đồng ý giao con chung Nguyễn Thị Kim T1 cho bị đơn trực tiếp nuôi dưỡng.
Tài sản chung, nợ chung: nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn vắng mặt suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với bị đơn, đồng ý giao con chung Nguyễn Thị Kim T1 cho bị đơn trực tiếp nuôi dưỡng, mức cấp dưỡng nuôi con nguyên đơn tự thỏa thuận với bị đơn, về tài sản chung và nợ chung nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bị đơn vắng mặt không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì việc ông Nguyễn Thành T yêu cầu ly hôn với bà Trương Thị P thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do; căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[3] Về yêu cầu của các đương sự:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 68, quyển số 01/2015 ngày 06 tháng 8 năm 2015 của Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện quan hệ hôn nhân giữa ông Nguyễn Thành T và bà Trương Thị P là hợp pháp.
Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn:
Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: mâu thuẫn vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn đã trầm trọng. Tòa án đã nhiều lần động viên nguyên đơn hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng nguyên đơn từ chối; bị đơn đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không đến tham gia hòa giải, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; tại phiên tòa các đương sự đều vắng mặt. Điều đó chứng tỏ nguyên đơn và bị đơn không còn tha thiết với việc giải quyết mâu thuẫn vợ chồng, cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình.
Xét thấy, hôn nhân phải là sự tự nguyện từ hai phía, vợ chồng phải yêu thương tôn trọng lẫn nhau, thống nhất với nhau về suy nghĩ và quan điểm sống, các bên phải quý trọng, chia sẻ, bàn bạc giải quyết các vấn đề chung trong cuộc sống, tuy nhiên, quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Căn cứ bản sao Giấy khai sinh số 219/KS, quyển số 02/2016 và số 190/2024/GKH-BS ngày 25 tháng 04 năm 2024 của Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định nguyên đơn và bị đơn có 02 con chung tên Nguyễn Quang V, sinh ngày 10 tháng 07 năm 2006 và Nguyễn Thị Kim T1, sinh ngày 18 tháng 05 năm 2007. Con chung Nguyễn Quang V đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với con chung Nguyễn Thị Kim T1 có nguyện vọng được sống với mẹ và hiện đang sống cùng mẹ, đồng thời, tại phiên họp ngày 02 tháng 08 năm 2024 nguyên đơn cũng đồng ý giao trẻ Tuyền cho bị đơn trực tiếp nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử xét thấy việc giao trẻ Tuyền cho bị đơn trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp án phí dân sự đối với yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 5, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 271, Điều 273 và Điều 278 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57, 81,82,83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Thành T được ly hôn với bà Trương Thị P.
Giấy chứng nhận kết hôn số 68, quyển số 01/2015 ngày 06 tháng 8 năm 2015 của Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh hết hiệu lực pháp luật.
Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Kim T1, sinh ngày 18 tháng 05 năm 2007 cho bà Trương Thị P trực tiếp nuôi dưỡng, mức cấp dưỡng nuôi con các đương sự tự thỏa thuận.
Ông Nguyễn Thành T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, tôn trọng quyền của con được sống với người trực tiếp nuôi dưỡng.
Trên cơ sở lợi ích của con, cha, mẹ, người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội Liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Khi cần thiết đương sự có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) ông Nguyễn Thành T phải nộp, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0015217 ngày 10 tháng 05 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Thành T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Hoài |
Bản án số 1167/2024/HNGĐ-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 1167/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
