Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


Bản án số: 1166/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 04 - 11 - 2025

V/v tranh chấp ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Tuý Như

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Võ Bút Thông
  2. Bà Nguyễn Thị Bích

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Thành – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Ngọc Hà – Kiểm sát viên.

Trong ngày 04 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 440/2025/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 3091/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 9 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 3386/2025/QÐST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị N, sinh ngày 16/12/1982

Căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát Quản lý Hành chính về Trật tự Xã hội cấp ngày 25/4/2021.

Thường trú: 96/62/4A đường TA19A, Khu phố A (Khu phố 5 cũ), phường T (phường T, Quận A cũ), Thành phố Hồ Chí Minh.

(Nguyên đơn có mặt)

2. Bị đơn: Ông Trịnh Tuấn V, sinh ngày 03/7/1978

Căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát Quản lý Hành chính về Trật tự Xã hội cấp ngày 25/4/2021

Thường trú: 96/62/4A đường TA19A, Khu phố A (Khu phố 5 cũ), phường T (phường T, Quận A cũ), Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ cư trú thực tế: 102/3 đường T, Khu phố A, phường T (phường T, Quận A cũ), Thành phố Hồ Chí Minh.

(Bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – bà Trần Thị N trình bày:

Bà và ông Trịnh Tuấn V có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 36 ngày 12/4/2006 tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Nay là Ủy ban nhân dân phường T, Thành phố Hồ Chí Minh). Quá trình chung sống, thời gian đầu cuộc sống hôn nhân hạnh phúc, đến năm 2022, do khác biệt về lối sống cũng như bất đồng quan điểm nên vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cãi vã, ngày càng không có tiếng nói chung, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Vợ chồng bà cũng đã ly thân từ khoảng tháng 6 năm 2023 đến nay. Hiện tình cảm vợ chồng bà không còn khả năng hàn gắn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trịnh Tuấn V.

Về con chung: Bà Trần Thị N xác định bà và ông Trịnh Tuấn V có 02 (hai) con chung tên Trịnh Trần Thanh V1, sinh ngày 15/8/2007, đã trưởng thành và Trịnh Tuấn T, sinh ngày 26/11/2012. Bà N đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ T và yêu cầu ông Trịnh Tuấn V cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 2.000.000 đồng cho đến khi con trưởng thành, thực hiện cấp dưỡng vào ngày 15 hàng tháng.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Bà Trần Thị N xác định bà và ông Trịnh Tuấn V không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Ý kiến của bị đơn – ông Trịnh Tuấn V:

Sau khi thụ lý vụ án, Toà án nhân dân khu vực 7 – Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành thông báo về việc thụ lý vụ án, tiến hành triệu tập các đương sự tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho bị đơn - ông Trịnh Tuấn V. Tuy nhiên, bị đơn không đến Tòa án và cũng không gửi cho Tòa án bất cứ văn bản nào thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thủ tục khởi kiện và thụ lý vụ án thực hiện đúng quy định của pháp luật. Tòa án thụ lý đúng thẩm quyền. Việc tống đạt các văn bản tố tụng và chuyển hồ sơ cho Viện Kiểm sát nghiên cứu thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tuân theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Kiến nghị Thẩm phán về thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025. Ngoài ra còn nhận xét về việc tham gia tố tụng của các đương sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; Điều 8, 9, 56, 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giải quyết vụ án theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị N được ly hôn với ông Trịnh Tuấn V.

Về con chung: Giao trẻ Trịnh Tuấn T, sinh ngày 26/11/2012 cho bà Trần Thị N tiếp tục nuôi dưỡng. Buộc ông Trịnh Tuấn V cấp dưỡng nuôi con đối với cháu Trịnh Tuấn T là 2.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà N trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bà Trần Thị N yêu cầu được ly hôn với ông Trịnh Tuấn V. Đây là quan hệ pháp luật tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn. Bị đơn đang thực tế cư trú tại: 1 đường T, Khu phố A, phường T (phường T, Quận A cũ), Thành phố Hồ Chí Minh.

Do đó, căn cứ vào các điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh (Nay là Toà án nhân dân khu vực 7-Thành phố Hồ Chí Minh).

[2] Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn có mặt, bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt không rõ lý do nên theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[3] Về các yêu cầu của các đương sự:

Căn cứ vào lời khai của các đương sự; căn cứ vào các giấy tờ, tài liệu do các đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được có đủ cơ sở xác định:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị N và ông Trịnh Tuấn V tự nguyện chung sống có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 36 ngày 12/4/2006 của Ủy ban nhân dân phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp nên bà N có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Tuy nhiên, qua lời khai của bà N thì quá trình sống chung, đến năm 2022, do khác biệt về lối sống cũng như bất đồng quan điểm nên vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cãi vã, ngày càng không có tiếng nói chung, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình hạnh phúc không đạt được. Vợ chồng cũng đã ly thân từ khoảng tháng 6 năm 2023 đến nay.

Đồng thời, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, ông V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông đã không đến Tòa án và cũng không gửi văn bản phản đối các ý kiến của bà N. Điều này chứng tỏ ông V không có thiện chí cũng như không mong muốn hàn gắn quan hệ vợ chồng. Đồng thời, theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định về những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Trong trường hợp này, bà N cho rằng quá trình sống chung, vợ chồng bà phát mâu thuẫn do khác biệt về lối sống và bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình hạnh phúc không đạt được. Vợ chồng cũng đã ly thân từ khoảng tháng 6 năm 2023 đến nay, ông V không có ý kiến phản đối nên lời khai này của bà N là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh.

Từ những nhận định trên, đã có đủ cơ sở để xác định tình cảm vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn không còn, mâu thuẫn giữa hai vợ chồng thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình hạnh phúc thực sự không đạt được. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.

Về con chung: Bà Trần Thị N xác định bà và ông Trịnh Tuấn V có 02 (hai) con chung tên Trịnh Trần Thanh V1, sinh ngày 15/8/2007, đã trưởng thành và Trịnh Tuấn T, sinh ngày 26/11/2012. Bà N đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ T và yêu cầu ông Trịnh Tuấn V cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 2.000.000 đồng cho đến khi cháu trưởng thành, cấp dưỡng vào ngày 15 hàng tháng.

Bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ T. Đồng thời, tại bản tự khai ngày 08/7/2025, trẻ T cũng có nguyện vọng được ở với mẹ sau khi ba mẹ ly hôn. Do đó, để đảm bảo cho cuộc sống và sự phát triển bình thường của trẻ, căn cứ vào các điều 81 và 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, có cơ sở chấp nhận yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ T của bà N.

Đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024: “Trường hợp các bên không thoả thuận được thì Tòa án quyết định mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con”. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định 74/2024/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2024 và phụ lục đính kèm nghị định này, mức lương tối thiểu vùng tại nơi ông Trịnh Tuấn V đang cư trú – Số A đường T, Khu phố A, phường T (phường T, Quận A cũ), Thành phố Hồ Chí Minh là 4.960.000 đồng/tháng. Do đó, mức cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng mà bà N yêu cầu mỗi tháng là phù hợp với quy định của pháp luật nên có cơ sở để chấp nhận.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Bà Trần Thị N xác định bà và ông Trịnh Tuấn V không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Về án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp hôn nhân và gia đình không có giá ngạch về ly hôn là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, bà Trần Thị N phải chịu.

Án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp hôn nhân và gia đình không có giá ngạch về cấp dưỡng nuôi con là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, ông Trịnh Tuấn V phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025;

Căn cứ vào Điều 51, 53, 54, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 và Điều 118 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 3 Nghị định 74/2024/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2024;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý việc sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ vào các Điều 2, 6, 7, 9, 30 Luật Thi hành án dân sự;

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Thị N:

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị N được ly hôn với ông Trịnh Tuấn V.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, giấy chứng nhận kết hôn số 36, quyển số 01/2006 ngày 12/4/2006 của Ủy ban nhân dân phường T (Ủy ban nhân dân phường T, Quận A cũ), Thành phố Hồ Chí Minh không còn hiệu lực.

1.2. Về con chung: Bà Trần Thị N xác định bà và ông Trịnh Tuấn V có 02 (hai) con chung tên Trịnh Trần Thanh V1, sinh ngày 15/8/2007 và Trịnh Tuấn T, sinh ngày 26/11/2012.

Trẻ Trịnh Trần Thanh V1, sinh ngày 15/8/2007 hiện đã thành niên nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Giao con chung tên Trịnh Tuấn T cho bà Trần Thị N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên. Ông Trịnh Tuấn V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 (hai triệu) đồng cho đến khi phát sinh các căn cứ chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 118 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Thực hiện cấp dưỡng nuôi con vào ngày 15 hàng tháng. Việc giao nhận tiền cấp dưỡng nuôi con do các bên đương sự tự nguyện thực hiện hoặc thực hiện tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày bà Trần Thị N có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Trịnh Tuấn V không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ cấp dưỡng thì hàng tháng ông V còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Vì lợi ích con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức, Toà án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng; không ai được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

1.3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Bà Trần Thị N xác định bà và ông Trịnh Tuấn V không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Trần Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp hôn nhân và gia đình không có giá ngạch về ly hôn là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà N đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0062647 ngày 28 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh (Nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7- Thành phố Hồ Chí Minh). Bà Trần Thị N đã nộp đủ án phí.

Ông Trịnh Tuấn V phải án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp hôn nhân và gia đình không có giá ngạch về cấp dưỡng nuôi con là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng.

3. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND khu vực 7-TP.HCM;
  • - Phòng THADS khu vực 7 - TP.HCM;
  • - UBND phường Thới An,
  • Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Tuý Như

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1166/2025/HNGĐ-ST ngày 04/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 1166/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger