|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 1165/2024/HS-PT Ngày: 16 - 12 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Bùi Thị Thu |
| Các Thẩm phán: | Bà Nguyễn Thị Thanh |
| Ông Cao Văn Tám |
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Thông - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 546/2024/TLPT-HS ngày 20/6/2024 đối với bị cáo Trần Thị Biên T do có kháng cáo của bị cáo và các bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2024/HSST ngày 28/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
Bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo:
Trần Thị Biên T, sinh năm 1979, tại tỉnh Tây Ninh; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: khu phố D, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú hiện nay: ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không có; con ông Trần Văn H, sinh năm 1953 và bà Ngô Thị B, sinh năm 1957; chồng: Lê Thanh T1, sinh năm 1977 (đã ly hôn); con: có 01 người, sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú – có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Thị Biên T (chỉ định): Luật sư Lê Thị Quỳnh A; thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. Có mặt.
- Các bị hại có kháng cáo:
- + Bà Đặng Thị H1, sinh năm 1975, địa chỉ: số D hẻm A đường H, khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Có mặt.
- + Ông Châu Minh S, sinh năm 1984, địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.
- + Bà Nguyễn Lâm Kim N, sinh năm 1991, địa chỉ: số C đường số C, khu phố E, phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.
- + Bà Huỳnh Hoàng L, sinh năm 1972, địa chỉ: khu phố C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.
- + Bà Nguyễn Thị Thu S1, sinh năm 1965, địa chỉ: ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Có mặt.
- + Bà Lê Thị D, sinh năm 1972, địa chỉ: A H, khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.
- + Bà Lê Thị L1, sinh năm 1975, địa chỉ: F T, khu phố D, phường T, Q.12, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
- + Bà Trần Thị Thu T2, sinh năm 1977, địa chỉ: số A H, khu phố E, phường A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.
- + Ông Trầm Chí T3, sinh năm 1992, địa chỉ: F hẻm I H, khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Có mặt.
- + Bà Đặng Thị N1, sinh năm 1970, địa chỉ: F hẻm A H, khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Có mặt.
Ngoài ra trong vụ án còn có các bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Thị Biên T tổ chức nhiều dây hụi tháng để hưởng huê hồng từ năm 2010. Đến tháng 3 năm 2020, biết tâm lý các hụi viên thường nuôi hụi, ít tham gia khui hụi, T sử dụng thủ đoạn gian dối đưa tên hụi viên không có thật vào dây hụi, tự ý lấy tên hụi viên lĩnh hụi để chiếm đoạt tiền của hụi viên. Đến tháng 7/2021, do mất khả năng chi trả, không còn khả năng duy trì các dây hụi nên T tuyên bố vỡ hụi. Sau khi vỡ hụi, T vẫn gặp một số hụi viên nói dối nếu đóng đủ các kỳ hụi thì sẽ được đăng hụi, các hụi viên tin tưởng nên tiếp tục đóng các kỳ hụi cho T. Tại thời điểm vỡ hụi, còn 11 dây hụi tháng đang hoạt động (01 dây hụi 10.000.000 đồng; 07 dây hụi 5.000.000 đồng; 02 dây hụi 3.000.000 đồng và 01 dây hụi 2.000.000 đồng) và 01 dây hụi 5.000.000 đồng 1 tháng khui 02 lần, xác định T tự ý lấy tên hụi viên lĩnh hụi và thu thêm tiền của hụi viên chiếm đoạt tổng cộng 5.340.165.000 đồng của 64 hụi viên trong 12 dây hụi như sau:
1. Dây hụi 10.000.000 đồng, khui ngày 20/7/2019
Dây hụi gồm 17 hụi viên tham gia 26 phần hụi (chủ hụi tham gia cùng với Trương Thị T4 01 phần). Đến thời điểm vỡ hụi, dây hụi đã khui 24 kỳ, trong đó 14 hụi viên lĩnh 19 phần hụi, T tự ý lấy tên 05 hụi viên lĩnh 4,5 phần hụi tại các kỳ 3, 9, 10, 16, 17 chiếm đoạt 227.175.000 đồng (6,5 phần hụi) của 07 hụi viên chưa lĩnh hụi; trách nhiệm dân sự 791.820.000 đồng (số tiền những hụi viên chưa lĩnh hụi đã đóng tại các kỳ có hụi viên thực lĩnh).
2. Dây hụi 3.000.000 đồng, khui ngày 15/9/2019
Dây hụi gồm 22 hụi viên tham gia 25 phần hụi (chủ hụi tham gia 01 phần đã hốt). Đến thời điểm vỡ hụi, dây hụi đã khui 22 kỳ, trong đó 12 hụi viên lĩnh 13 phần hụi, T tự ý lấy tên 09 hụi viên lĩnh 09 phần hụi tại các kỳ 13-19, 21, 22 chiếm đoạt 241.600.000 đồng (12 phần hụi) của 11 hụi viên chưa lĩnh hụi; trách nhiệm dân sự 355.920.000 đồng. Sau khi vỡ hụi, T thu tiền của 02 hụi viên Chương Thị M và Ngô Thị Kim H2 chiếm đoạt 8.400.000 đồng.
3. Dây hụi 5.000.000 đồng, khui ngày 01/11/2019
Dây hụi có 25 phần, gồm 18 hụi viên tham gia 23 phần hụi, chủ hụi tham gia 01 phần đã hốt và có 01 phần hụi không có thật. Đến thời điểm vỡ hụi, dây hụi đã khui 21 kỳ, trong đó 10 hụi viên lĩnh 13 phần hụi, T tự ý lấy tên 05 hụi viên lĩnh 07 phần hụi tại các kỳ 15-21 và 01 phần hụi không có thật chiếm đoạt 314.750.000 đồng (11 phần hụi) của 09 hụi viên chưa lĩnh hụi; trách nhiệm dân sự 526.680.000 đồng. Sau khi vỡ hụi, T thu tiền của 02 hụi viên Nguyễn Thị Mỹ D1 và Ngô Thị Kim H2, chiếm đoạt 24.500.000 đồng.
4. Dây hụi 2.000.000 đồng, khui ngày 05/3/2020
Dây hụi gồm 15 hụi viên tham gia 22 phần hụi (có 03 hụi viên nghỉ chơi). Đến thời điểm vỡ hụi, dây hụi đã khui 17 kỳ, trong đó 04 hụi viên lĩnh 07 phần hụi, T tự ý lấy tên 07 hụi viên lĩnh 10 phần hụi tại các kỳ 2-5, 7, 9-11, 16, 17 chiếm đoạt 181.080.000 đồng (12 phần hụi) của 10 hụi viên chưa lĩnh hụi; trách nhiệm dân sự 135.0000.000 đồng. Sau khi vỡ hụi, T thu tiền của 03 hụi viên Trần Thị Ánh T5, Huỳnh Hoàng L và Phan Thị Y, chiếm đoạt 6.750.000 đồng.
5. Dây hụi 5.000.000 đồng, khui ngày 01/4/2020 (Dây 1)
Dây hụi có 25 phần hụi, gồm 15 hụi viên tham gia 21 phần, chủ hụi tham gia 02 phần đã hốt và 02 phần hụi không có thật. Đến thời điểm vỡ hụi, dây hụi đã khui 16 kỳ, trong đó 03 hụi viên lĩnh 05 phần hụi, T tự ý lấy tên 11 hụi viên lĩnh 11 phần hụi tại các kỳ 5-10, 12-16 chiếm đoạt 626.500.000 đồng (16 phần hụi) của 14 hụi viên chưa lĩnh hụi; trách nhiệm dân sự 296.800.000 đồng. Sau khi vỡ hụi, T còn thu tiền của 04 hụi viên Trương Thị T4, Phan Thị Y, Lê Thị L1 và Nguyễn Thị Hoàng T6, chiếm đoạt 29.000.000 đồng. T đã trả lại tiền trước khi vỡ hụi cho hụi viên Phạm Ngọc Q, Hoàng Bá T7 mỗi người tham gia 01 phần hụi.
6. Dây hụi 5.000.000 đồng, khui ngày 01/4/2020 (Dây 2)
Dây hụi gồm 20 hụi viên tham gia 25 phần hụi. Đến thời điểm vỡ hụi, dây hụi đã khui 16 kỳ, trong đó 03 hụi viên lĩnh 03 phần hụi, T tự ý lấy tên 12 hụi viên lĩnh 13 phần hụi tại các kỳ 1-6, 8-10, 13-16 chiếm đoạt 957.300.000 đồng (21 phần hụi) của 18 hụi viên chưa lĩnh hụi; trách nhiệm dân sự 227.300.000 đồng. Sau khi vỡ hụi, T thu thêm tiền của hụi viên Phan Thị Y, Nguyễn Thị Hoàng T6, Ngô Thị Kim H2, Trương Thị T4 và Đinh Vĩnh P, chiếm đoạt 43.000.000 đồng. T đã trả lại tiền trước khi vỡ hụi cho hụi viên Trần Thị Ngọc H3 tham gia 01 phần hụi.
7. Dây hụi 5.000.000 đồng, khui ngày 10/8/2020 (Dây 1)
Dây hụi gồm 21 hụi viên tham gia 25 phần hụi, trong đó chủ hụi tham gia 01 phần đã hốt. Đến thời điểm vỡ hụi, dây hụi đã khui 12 kỳ, trong đó 03 hụi viên lĩnh 03 phần hụi, T tự ý lấy tên 09 hụi viên lĩnh 09 phần hụi tại các kỳ 2-5, 8-12 chiếm đoạt 629.750.000 đồng (21 phần hụi) của 18 hụi viên chưa lĩnh hụi; trách nhiệm dân sự 222.750.000 đồng. Sau khi vỡ hụi, T thu thêm tiền của hụi viên Châu Minh S, Đặng Thị H1, Trần Thị Trà G, Nguyễn Thị Thu S1 và Ngô Thị Kim H2, chiếm đoạt 59.500.000 đồng. T đã trả lại tiền trước khi vỡ hụi cho hụi viên Lê Thị H4 tham gia 01 phần hụi.
8. Dây hụi 5.000.000 đồng, khui ngày 10/8/2020 (Dây 2)
Dây hụi có 25 phần, gồm 19 hụi viên tham gia 24 phần hụi, chủ hụi tham gia 01 phần đã hốt. Đến thời điểm vỡ hụi, dây hụi đã khui 12 kỳ, trong đó 02 hụi viên lĩnh 04 phần hụi, T tự ý lấy tên 07 hụi viên lĩnh 08 phần hụi tại các kỳ 2-6, 10-12 chiếm đoạt 456.810.000 đồng (17 phần hụi) của 14 hụi viên chưa lĩnh hụi; trách nhiệm dân sự 252.790.000 đồng. Sau khi vỡ hụi, T thu thêm tiền của hụi viên Đặng Thị H1 và Ngô Thị Kim H2, chiếm đoạt 17.500.000 đồng. T đã trả lại tiền trước khi vỡ hụi cho hụi viên Phùng Thị Thùy C, Đỗ Thị Yến H5, Phạm Thị Tuyết M1, Lê Thị H4 mỗi người tham gia 01 phần hụi.
9. Dây hụi 3.000.000 đồng, khui ngày 10/10/2020
Dây hụi có 25 phần, gồm 14 hụi viên tham gia 21 phần hụi, chủ hụi tham gia 02 phần đã hốt và 02 phần hụi không có thật. Đến thời điểm vỡ hụi, dây hụi đã khui 10 kỳ, trong đó 01 hụi viên lĩnh 02 phần hụi, T tự ý lấy tên 05 hụi viên lĩnh 08 phần hụi tại các kỳ 3-10 chiếm đoạt 364.250.000 đồng (21 phần hụi) của 14 hụi viên chưa lĩnh hụi (trong đó có 01 hụi viên chưa xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể); trách nhiệm dân sự 96.600.000 đồng. Sau khi vỡ hụi, T thu thêm tiền của hụi viên Huỳnh Hoàng L và Võ Thị Ngọc A1, chiếm đoạt 11.000.000 đồng.
10. Dây hụi 5.000.000 đồng, khui ngày 15/11/2020, 1 tháng khui 02 lần
Dây hụi gồm 19 hụi viên tham gia 28 phần hụi. Đến thời điểm vỡ hụi, dây hụi đã khui 17 kỳ, trong đó 05 hụi viên lĩnh 06 phần hụi, T tự ý lấy tên 09 hụi viên lĩnh 11 phần hụi tại các kỳ 1, 2, 4-6, 10-12, 15-17 chiếm đoạt 737.050.000 đồng (21 phần hụi) của 16 hụi viên chưa lĩnh hụi; trách nhiệm dân sự 420.300.000 đồng. Sau khi vỡ hụi, T thu thêm tiền của hụi viên Nguyễn Thị Thu S1 chiếm đoạt 28.000.000 đồng. T đã trả lại tiền trước khi vỡ hụi cho hụi viên Đỗ Thị Yến H5 tham gia 01 phần hụi.
11. Dây hụi 5.000.000 đồng, khui ngày 05/01/2021
Dây hụi gồm 18 hụi viên tham gia 24 phần hụi, trong đó chủ hụi tham gia 02 phần đã hốt. Đến thời điểm vỡ hụi, dây hụi đã khui 7 kỳ, trong đó 03 hụi viên lĩnh 04 phần hụi, T tự ý lấy tên 03 hụi viên lĩnh 03 phần hụi tại các kỳ 3, 6, 7 chiếm đoạt 183.950.000 đồng (18 phần hụi) của 14 hụi viên chưa lĩnh hụi; trách nhiệm dân sự 264.940.000 đồng. Sau khi vỡ hụi, T thu thêm tiền của 05 hụi viên Nguyễn Thị Thanh P1, Phạm Thị D2, Nguyễn Thị Cẩm T8, Phan Thị Y và Đinh Vĩnh P, chiếm đoạt 25.550.000 đồng. T đã trả lại tiền trước khi vỡ hụi cho hụi viên Võ Thị Thúy N2, Lê Thị H4 mỗi người 01 phần hụi.
12. Dây hụi 5.000.000 đồng, khui ngày 15/3/2021
Dây hụi gồm 08 hụi viên tham gia 11 phần hụi. Đến thời điểm vỡ hụi, dây hụi đã khui 5 kỳ, không có hụi viên nào thực lĩnh hụi, T tự ý lấy tên 04 hụi viên lĩnh 05 phần hụi tại các kỳ 1-5 chiếm đoạt 166.700.000 đồng (11 phần hụi) của 08 hụi viên.
Trần Thị Biên T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Sau khi vỡ hụi, T đã trả lại một phần tiền hụi đã chiếm đoạt cho hụi viên tổng số tiền 528.800.000 đồng (có danh sách kèm theo) để khắc phục một phần hậu quả.
* Về kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: Giấy hụi Thùy đưa cho các hụi viên khi tham gia hụi; 04 cuốn tập học sinh thu giữ trong quá trình khám xét; 01 cuốn tập học sinh của Trương Thị P2 (kèm theo hồ sơ vụ án).
* Về bồi thường thiệt hại: Các bị hại yêu cầu T bồi thường số tiền đã chiếm đoạt (có bảng thống kê kèm theo).
* Về kê biên tài sản: Trần Thị Biên T không có tài sản nên không thực hiện thủ tục kê biên.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2024/HSST ngày 28/3/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh quyết định:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Thị Biên T 09 (chín) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
2. Trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 589 của Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo T phải bồi thường cho các bị hại tổng số tiền 2.762.020.000 đồng như sau:
- Trần Thị Thu T2, sinh năm 1972, địa chỉ: khu phố A, phường B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh số tiền 85.250.000 (T9 mươi lăm triệu hai trăm năm mươi nghìn) đồng
- Lưu Thị Bích T10, sinh năm 1979; địa chỉ: khu phố A, phường B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh số tiền 151.910.000 (Một trăm năm mươi mốt triệu chín trăm mười nghìn) đồng
- Nguyễn Thị Kim C1, sinh năm 1975, địa chỉ: ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh số tiền 53.030.000 (Năm mươi ba triệu không trăm ba mươi nghìn)đồng
- Trần Thị H6, sinh năm 1947, địa chỉ: ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh số tiền 2.500.000 (Hai triệu năm trăm nghìn)đồng
- Huỳnh Thị Thu T11, sinh năm 1968, địa chỉ: A H, K, thị trấn C, tỉnh Tây Ninh số tiền 20.500.000 (Hai mươi triệu năm trăm nghìn)đồng
- Ngô Thị Kim H2, sinh năm 1955, địa chỉ: khu phố D, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tây Ninh số tiền 171.430.000 (Một trăm bảy mươi mốt triệu bốn trăm ba mươi nghìn) đồng
- Trần Thị Trà G, sinh năm 1988, địa chỉ: ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh số tiền 55.750.000 (Năm mươi lăm triệu bảy trăm năm mươi nghìn) đồng
- Bùi Thị Thu H7, sinh năm 1981, địa chỉ: khu phố C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tây Ninh số tiền 131.550.000 (Một trăm ba mươi mốt triệu năm trăm năm mươi nghìn) đồng
- Nguyễn Thị Mỹ D1, sinh năm 1997, địa chỉ: số A hẻm S khu phố C, phường A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh số tiền 57.550.000 (Năm mươi bảy triệu năm trăm năm mươi nghìn) đồng
- Đặng Thị H1, sinh năm 1975, địa chỉ: số D hẻm A đường H, khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh số tiền 356.630.000 (Ba trăm năm mươi sáu triệu sáu trăm ba mươi nghìn) đồng.
- Nguyễn Thị Ngọc T12, sinh năm 1976, địa chỉ: khu phố E, phường A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh số tiền 62.500.000 (Sáu mươi hai triệu năm trăm nghìn) đồng
- Lê Thị Ngọc H8, sinh năm 1981, địa chỉ: khu phố C, phường A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh số tiền 9.250.000 (Chín triệu hai trăm năm mươi nghìn) đồng
- Trần Thị Ánh T5, sinh năm 1982, địa chỉ: khu phố A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tây Ninh số tiền 82.320.000 (Tám mươi hai triệu ba trăm hai mươi nghìn) đồng
- Đỗ Nguyễn Vân A2, sinh năm 1991, địa chỉ: ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh số tiền 74.140.000 (Bảy mươi bốn triệu một trăm bốn mươi nghìn) đồng
- Huỳnh Hoàng L, sinh năm 1972, địa chỉ: khu phố C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tây Ninh số tiền 37.170.000 (Ba mươi bảy triệu một trăm bảy mươi nghìn) đồng
- Phan Thị Y, sinh năm 1961, địa chỉ: khu phố D, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tây Ninh số tiền 108.840.000 (Một trăm lẽ tám triệu tám trăm bốn mươi nghìn) đồng
- Trần Mỹ L2, sinh năm 1979, địa chỉ: Tổ F, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh số tiền 111.360.000 (Một trăm mười một triệu ba trăm sáu mươi sáu nghìn) đồng
- Võ Thị Thúy N2, sinh năm 1982, địa chỉ: khu phố C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tây Ninh số tiền 141.400.000 (Một trăm bốn mươi mốt triệu bốn trăm nghìn) đồng
- Trương Thị T4, sinh năm 1976, địa chỉ: ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh số tiền 93.430.000 (Chín mươi ba triệu bốn trăm ba mươi nghìn) đồng
- Lê Thị L1, sinh năm 1975, địa chỉ: F T, khu phố D, phường T, Q.12, Thành phố Hồ Chí Minh số tiền 77.500.000 (Bảy mươi bảy triệu năm trăm nghìn) đồng
- Nguyễn Thị Hoàng T6, sinh năm 1969, địa chỉ: khu phố D, phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh số tiền 118.050.000 (Một trăm mười tám triệu không trăm năm mươi nghìn) đồng
- Tống Thị Minh C2, sinh năm 1978, địa chỉ: ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh số tiền 105.830.000 (Một trăm lẻ năm triệu tám trăm ba mươi nghìn) đồng
- Nguyễn Thị T13, sinh năm 1988, địa chỉ: khu phố E, phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh số tiền 146.950.000 (Một trăm bốn mươi sáu triệu chín trăm năm mươi nghìn) đồng
- Trầm Chí T3, sinh năm 1992, địa chỉ: F hẻm I H, khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh số tiền 43.660.000 (Bốn mươi ba triệu sáu trăm sáu mươi nghìn) đồng
- Châu Minh S, sinh năm 1984, địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh số tiền 102.350.000 (Một trăm lẽ hai triệu ba trăm năm mươi nghìn) đồng
- Nguyễn Thị Thu S1, sinh năm 1965, địa chỉ: ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh số tiền 120.450.000 (một trăm hai mươi triệu bốn trăm năm mươi nghìn) đồng
- Lê Thị D, sinh năm 1972, địa chỉ: A H, khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh số tiền 55.180.000 (Năm mươi lăm triệu một trăm tám mươi nghìn) đồng
- Huỳnh Thị Yến N3, sinh năm 1982, địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh số tiền 99.750.000 (Chín mươi chín triệu bảy trăm năm mươi nghìn) đồng
- Đặng Thị N1, sinh năm 1970, địa chỉ: F hẻm A H, khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh số tiền 54.530.000 (Năm mươi bốn triệu năm trăm ba mươi nghìn) đồng
- Trần Thị Thu T2, sinh năm 1977, địa chỉ: số A H, khu phố E, phường A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh số tiền 12.860.000 (Mười hai triệu tám trăm sáu mươi nghìn) đồng
- Đỗ Thị H9, sinh năm 1980, địa chỉ: khu phố E, phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh số tiền 3.800.000 (Ba triệu tám trăm nghìn) đồng
- Nguyễn Lâm Kim N, sinh năm 1991, địa chỉ: số C đường số C, khu phố E, phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh số tiền 14.600.000 (Mười bốn triệu sáu trăm nghìn) đồng.
Ngoài số tiền nêu trên mà bị cáo có hành vi gian dối để chiếm đoạt của bị hại, còn lại số tiền giao dịch hụi hợp pháp mà các hụi viên đã đóng cho bị cáo, sau khi bể hụi bị cáo chưa hoàn trả được cho các hụi viên. Các hụi viên được quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 29/3/2024, bị cáo Trần Thị Biên T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Trong các ngày 10 và 11/4/2024, các bị hại Đặng Thị N1, Trầm Chí T3, Trần Thị Thu T2, Lê Thị L1, Lê Thị D, Nguyễn Thị Thu S1, Huỳnh Hoàng L, Nguyễn Lâm Kim N, Châu Minh S, Đặng Thị H1 có đơn kháng cáo đề nghị tăng nặng hình phạt đối với bị cáo Trần Thị Biên T và xem xét lại phần trách nhiệm dân sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
1. Phần xét hỏi:
- Bị cáo Trần Thị Biên T thừa nhận toàn bộ hành vi và tội danh mà Cơ quan tố tụng cấp sơ thẩm đã quy kết đối với bị cáo. Đồng thời bị cáo tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo của mình.
- Các bị hại có kháng cáo có mặt tại phiên tòa Đặng Thị H1, Nguyễn Thị Thu S1, Trầm Chí T3, Đặng Thị N1 tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo của mình.
- Các bị hại có kháng cáo Trần Thị Thu T2, Lê Thị L1, Lê Thị D, Huỳnh Hoàng L, Nguyễn Lâm Kim N, Châu Minh S vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
2. Phần tranh luận
2.1. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Thẩm phán chủ tọa, HĐXX, thư ký và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng pháp luật. Kháng cáo của bị cáo Trần Thị Biên T và các bị hại Đặng Thị N1, Trầm Chí T3, Trần Thị Thu T2, Lê Thị L1, Lê Thị D, Nguyễn Thị Thu S1, Huỳnh Hoàng L, Nguyễn Lâm Kim N, Châu Minh S, Đặng Thị Hồng N4 trong hạn và đúng quy định nên cần xem xét theo quy định pháp luật.
- Về nội dung: Căn cứ hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo, các bị hại và chứng cứ có tại hồ sơ thể hiện việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Thị Biên T 09 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, tương xứng với mức độ hành vi mà bị cáo thực hiện. Đối với phần trách nhiệm dân sự, Tòa án cấp sơ thẩm đã thu thập và xác định đúng phần trách nhiệm dân sự.
- + Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Trần Thị Biên T và các bị hại Đặng Thị H1, Nguyễn Thị Thu S1, Trần Chí T14, Đặng Thị N1 tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo. Đề nghị HĐXX đình chỉ đối với phần kháng cáo này.
- + Đối với các bị hại có kháng cáo vắng mặt, nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình. Do đó, đề nghị HĐXX bác kháng cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm.
2.2. Phần đối đáp của Luật sư Lê Thị Quỳnh A bào chữa cho bị cáo Trần Thị Biên T trình bày: Bị cáo đã tự nguyện rút đơn kháng cáo nên đề nghị HĐXX đình chỉ đối với kháng cáo của bị cáo. Đối với phần kháng cáo của bị hại vắng mặt, bản án cấp sơ thẩm tuyên là có căn cứ và đúng pháp luật. Đề nghị HĐXX bác kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
3. Phần bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo đã ăn năn hối cải, bị cáo sẽ cố gắng khắc phục hậu quả của mình. Đề nghị HĐXX bác kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cử, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Thị Biên T và đơn kháng cáo của các bị hại Đặng Thị N1, Trầm Chí T3, Trần Thị Thu T2, Lê Thị L1, Lê Thị D, Nguyễn Thị Thu S1, Huỳnh Hoàng L, Nguyễn Lâm Kim N, Châu Minh S và Đặng Thị H1 làm trong hạn luật định, là hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Thị Biên T và các bị hại Đặng Thị H1, Nguyễn Thị Thu S1, Trần Chí T14, Đặng Thị N1 xin rút toàn bộ kháng cáo.
Việc rút yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trần Thị Biên T và các bị hại Đặng Thị H1, Nguyễn Thị Thu S1, Trần Chí T14, Đặng Thị N1 là hoàn toàn tự nguyện và đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trần Thị Biên T và các bị hại Đặng Thị H1, Nguyễn Thị Thu S1, Trần Chí T14, Đặng Thị N1 theo quy định tại khoản 1 Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các bị hại Châu Minh S, Nguyễn Lâm Kim N, Huỳnh Hoàng L, Lê Thị D, Lê Thị L1, Trần Thị Thu T2 có kháng cáo, được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các bị hại này theo quy định pháp luật.
[2] Về nội dung:
Tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Trần Thị Biên T khai nhận: Bị cáo có tổ chức chơi hụi từ năm 2013, nên nắm bắt được tâm lý của các hụi viên thường nuôi hụi, cho nên từ năm 2018, bị cáo đã dùng nhiều thủ đoạn gian dối bằng cách tự ý lấy tên hụi viên để lĩnh hụi, thu thêm tiền hụi viên, kê khai thêm hụi viên không có thật vào danh sách hụi viên để chiếm đoạt tổng cộng 5.340.115.000 đồng của 64 hụi viên trong 12 dây hụi cho đến tháng 07/2021, do mất khả năng chi trả, mất khả năng duy trì các dây hụi nên bị cáo T tuyên bố vỡ hụi. Hành vi này của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu chính đáng của nhiều công dân, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, phạm tội từ 02 lần trở lên, đã chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên của 64 bị hại nên Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Trần Thị Biên T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2.1] Về kháng cáo yêu cầu tăng nặng hình phạt của các bị hại Châu Minh S, Nguyễn Lâm Kim N, Huỳnh Hoàng L, Lê Thị D, Lê Thị L1, Trần Thị Thu T2:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo T phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo vận động người thân hỗ trợ để bị cáo bồi thường một phần thiệt hại cho một số bị hại với số tiền trên ba tỷ đồng, bị cáo được một số người bị hại có đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo; có cha và ông nội tham gia cách mạng được tặng huy hiệu 50 năm tuổi Đảng và nhiều hình thức khen thưởng khác, đây là những tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo thể hiện được sự ăn năn, hối cải và có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại Điều 51, do đó, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 09 năm tù, dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp.
Do vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị hại Châu Minh S, Nguyễn Lâm Kim N, Huỳnh Hoàng L, Lê Thị D, Lê Thị L1, Trần Thị Thu T2 yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo.
[2.2] Về kháng cáo tăng số tiền bồi thường thiệt hại:
Các bị hại Châu Minh S, Nguyễn Lâm Kim N, Huỳnh Hoàng L, Lê Thị D, Lê Thị L1, Trần Thị Thu T2 yêu cầu tăng mức bồi thường thiệt hại nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào mới làm thay đổi số tiền bồi thường thiệt hại đã được cơ quan điều tra xác định qua quá trình điều tra nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của các bị hại về vấn đề này.
Ngoài số tiền mà bị cáo có hành vi gian dối để chiếm đoạt của bị hại, còn lại số tiền giao dịch hụi hợp pháp mà các hụi viên đã đóng cho bị cáo, sau khi bể hụi bị cáo chưa hoàn trả được cho các hụi viên, Tòa án cấp sơ thẩm xác định các hụi viên được quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác là đã đảm bảo quyền lợi cho các hụi viên.
Trên cơ sở phân tích trên, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[3] Về án phí phúc thẩm:
[3.1] Do kháng cáo về phần trách nhiệm dân sự không được chấp nhận nên các bị hại Châu Minh S, Nguyễn Lâm Kim N, Huỳnh Hoàng L, Lê Thị D, Lê Thị L1, Trần Thị Thu T2 phải chịu tiền án phí phúc thẩm theo quy định pháp luật.
[3.2] Các bị hại Đặng Thị H1, Nguyễn Thị Thu S1, Trần Chí T14, Đặng Thị N1 do rút kháng cáo nên không phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điểm a, đ khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trần Thị Biên T và các bị hại Đặng Thị H1, Nguyễn Thị Thu S1, Trần Chí T14, Đặng Thị N1.
2. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị hại Châu Minh S, Nguyễn Lâm Kim N, Huỳnh Hoàng L, Lê Thị D, Lê Thị L1, Trần Thị Thu T2. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2024/HSST ngày 28/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh như sau:
Tuyên bố bị cáo Trần Thị Biên T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
- Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Thị Biên T 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 589 của Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo T phải bồi thường cho các bị hại Châu Minh S, Nguyễn Lâm Kim N, Huỳnh Hoàng L, Lê Thị D, Lê Thị L1, Trần Thị Thu T2 như sau:
- Trần Thị Thu T2, sinh năm 1972, địa chỉ: khu phố A, phường B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh số tiền 85.250.000 (T9 mươi lăm triệu hai trăm năm mươi nghìn) đồng.
- Châu Minh S, sinh năm 1984, địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh số tiền 102.350.000 (Một trăm lẽ hai triệu ba trăm năm mươi nghìn) đồng.
- Nguyễn Lâm Kim N, sinh năm 1991, địa chỉ: số C đường số C, khu phố E, phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh số tiền 14.600.000 (Mười bốn triệu sáu trăm nghìn) đồng.
- Huỳnh Hoàng L, sinh năm 1972, địa chỉ: khu phố C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tây Ninh số tiền 37.170.000 (Ba mươi bảy triệu một trăm bảy mươi nghìn) đồng.
- Lê Thị D, sinh năm 1972, địa chỉ: A H, khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh số tiền 55.180.000 (Năm mươi lăm triệu một trăm tám mươi nghìn) đồng.
- Lê Thị L1, sinh năm 1975, địa chỉ: F T, khu phố D, phường T, Q.12, Thành phố Hồ Chí Minh số tiền 77.500.000 (Bảy mươi bảy triệu năm trăm nghìn) đồng.
Ngoài số tiền mà bị cáo có hành vi gian dối để chiếm đoạt của bị hại, còn lại số tiền giao dịch hụi hợp pháp mà các hụi viên đã đóng cho bị cáo, sau khi bể hụi bị cáo chưa hoàn trả được cho các hụi viên. Các hụi viên được quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
3. Về án phí phúc thẩm:
- Các bị hại Châu Minh S, Nguyễn Lâm Kim N, Huỳnh Hoàng L, Lê Thị D, Lê Thị L1, Trần Thị Thu T2 phải chịu tiền án phí phúc thẩm mỗi người 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.
- Các bị hại Đặng Thị H1, Nguyễn Thị Thu S1, Trần Chí T14, Đặng Thị N1 không phải chịu án phí.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Các Thẩm phán Nguyễn Thị T12 – C Bùi Thị T15 |
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bùi Thị Thu |
Nơi nhận:
- - Tòa án nhân dân tối cao; (1)
- - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh; (1)
- - TAND tỉnh Tây Ninh; (2)
- - VKSND tỉnh Tây Ninh; (1)
- - Công an tỉnh Tây Ninh; (1)
- - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh; (1)
- - Cục THADS tỉnh Tây Ninh; (1)
- - Bị cáo tại ngoại (1);
- - Bị hại có kháng cáo; (10)
- - Lưu: VP, HS (ĐTM). (6)
Bản án số 1165/2024/HS-PT ngày 16/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 1165/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trần Thị Biên T và các bị hại Đặng Thị H1, Nguyễn Thị Thu S1, Trần Chí T14, Đặng Thị N1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị hại Châu Minh S, Nguyễn Lâm Kim N, Huỳnh Hoàng L, Lê Thị D, Lê Thị L1, Trần Thị Thu T2. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2024/HSST ngày 28/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
