TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 1164/2024/HS-PT Ngày: 13 -12 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Minh
Các Thẩm phán: Ông Vũ Ngọc Huynh
Ông Phạm Trí Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mậu Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 837/2024/TLPT-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo Nguyễn Văn A và Nguyễn Xuân C. Do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 149/2024/HS-ST ngày 06/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Bị cáo kháng cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Văn A, tên gọi khác: Không. Sinh năm: 1985 tại: tỉnh HT.
Nơi đăng ký thường trú: khu phố B, phường TD, TP BH, tỉnh ĐN.
Nghề nghiệp: Buôn bán. Trình độ học vấn: 9/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Nguyễn Văn L, sinh năm 1957 và con bà Lê Thị M, sinh năm 1958. Có vợ Nguyễn Thị T, sinh năm 1983 và có 03 con (Lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2022).
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 23/10/2023, theo Lệnh bắt bị cáo để tạm giam số 99/LTG-CSHS ngày 13/10/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Nai (có mặt).
2. Họ và tên: Nguyễn Xuân C, tên gọi khác: Không, sinh năm 1989 tại tỉnh HT.
Nơi đăng ký thường trú: Thôn X TH, xã HT, huyện HK, tỉnh HT.
- Nghề nghiệp: Buôn bán. Trình độ học vấn: 9/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Nguyễn Văn L, sinh năm 1957 và con bà Lê Thị M, sinh năm 1958. Có vợ Lê Thị V, sinh năm 1994 và có 02 con (Lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2018).
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo trốn truy nã sau đó ra đầu thú và bị tạm giữ ngày 19/3/2024, chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số 507/LTG-CSHS ngày 22/3/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Nai (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn A do Tòa án chỉ định: Luật sư Lê Ngô Phương T1, thuộc Đoàn Luật sư TP.HCM (có mặt)
- Người bào chữa theo yêu cầu cho bị cáo Nguyễn Xuân C: Luật sư Phan Văn T2, thuộc Đoàn Luật sư TP.HCM (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nội dung chính: Do mâu thuẫn trong việc tranh giành nhau chỗ bán thịt bò tại chợ H, thuộc khu phố C, phường TD, TP.BH, tỉnh ĐN, nên khoảng 15 giờ 00 ngày 06/02/2022, Phan Văn H1, sinh năm 1985, hộ khẩu thường trú: xóm Y, xã TS, huyện ĐL, tỉnh NA gọi điện cho Nguyễn Văn A hẹn gặp nhau để giải quyết mâu thuẫn tại chợ H thuộc tổ Z, khu phố C, phường TD, TP.BH, tỉnh ĐN. Lúc này, A đang ngồi uống bia cùng với em ruột là Nguyễn Xuân C nên A rủ C đi đánh nhau với H1, thì C đồng ý và sử dụng xe mô tô, biển số 60B1-90027 chở A ngồi sau mang theo 01 con dao rựa bằng kim loại dài khoảng 88 cm, 01 con dao phóng lợn tự chế dài khoảng 1,6m và 01 con dao bầu dài khoảng 27cm. Khi đến chợ H, cả hai thấy H1 đang đứng chờ sẵn. A, C dựng xe và đi lại chỗ H1. A dùng con dao phóng lợn chém vào người H1 thì H1 rút 01 con dao bầu dài khoảng 32cm ra đâm một nhát trúng vào bụng C. A thấy C bị đâm thì dùng dao đâm H1 trúng vào cánh tay phải và xuyên vào nách H1, H1 nắm được con dao của A. Cả 02 giằng co, còn C chạy về phía xe mô tô để lấy dao. H1 giật được con dao phóng lợn trên tay A thì A lấy trong người ra 01 con dao bầu đâm H1 nhưng không trúng, C lấy 01 con dao rựa mang theo chém trúng vào tay H1 làm con dao của H1 rơi xuống đất. A chạy đến ôm H1 giằng co thì C dùng dao chém 01 nhát trúng vào đầu của H1 làm con dao của C rơi xuống đất. A và H1 vật lộn, A đè lên người H1 còn C tiếp tục nhặt con dao rựa và dùng phần sống dao chém vào đầu H1 02 nhát. Hậu quả làm Phan Văn H1 bị vỡ sọ đỉnh, 03 vết thương ở đầu, 01 vết thương chân mày phải, 01 vết thương cánh tay phải, 01 vết thương nách phải, 01 vết thương mặt lưng ngón III bàn tay phải, 01 vết thương mất da bàn tay (T), Đứt lìa ngón II bàn tay trái đã tạo mỏm cụt. Sau đó H1 được người dân đưa đến Bệnh viện đa khoa Đồng Nai cấp cứu. Sự việc đánh nhau được quần chúng nhân dân báo cho Cơ quan công an để xử lý. Qua điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai đã khởi tố đối với Nguyễn Văn A và Nguyễn Xuân C về tội Giết người, đối với Phan Văn H1 để điều tra, xử lý. Riêng đối với Nguyễn Xuân C bỏ trốn nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai ra quyết định truy nã, đến ngày 19/3/2024, thì C đến Cơ quan Công an đầu thú.
2. Vật chứng, tài liệu thu giữ:
- - 01 (một) con dao tự chế (dạng dao phóng lợn) dài khoảng 160cm, lưỡi dao được hàn vào cây kim loại tròn khoảng 20cm, lưỡi dao bản rộng khoảng 06cm; 01 (một) con dao rựa dài khoảng 88cm; 01 (một) dao bầu dài khoảng 27cm, lưỡi bản rộng nhất khoảng 5cm, cán gỗ dài khoảng 12cm, là hung khí do Nguyễn Văn A và Nguyễn Xuân C đem theo để đánh nhau với Phan Văn H1.
- - 01 (một) dao bầu dài khoảng 32cm lưỡi bản rộng nhất khoảng 7cm; 01 (một) dao bầu dài khoảng 28cm, lưỡi bản rộng khoảng 5cm, cán gỗ dài khoảng 11cm. Là hung khí do Phan Văn H1 đem theo để đánh nhau với Nguyễn Văn A và Nguyễn Xuân C.
- - 01 USB ghi hình vụ đánh nhau giữa Nguyễn Văn A, Nguyễn Xuân C với Phan Văn H1 (được lưu hồ sơ vụ án), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai đã cho Nguyễn Văn A, Nguyễn Xuân C xem đoạn camera và cả 02 xác nhận đã tham gia đánh nhau với Phan Văn H1 như trong đoạn camera ghi hình trên.
- - 01 xe mô tô biển số 60B1-90027, qua điều tra xác định chiếc xe trên là của chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1987, HKTT: khu phố N, phường TD, TP. BH, tỉnh ĐN là em vợ của Nguyễn Văn A cho A mượn và không biết A sử dụng đi đánh nhau nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai đã trả lại cho chị H2.
3. Giám định và kết luận giám định:
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể qua hồ sơ số 4219/KLTgTHS-C09B ngày 11/8/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
* Đối với Nguyễn Xuân C:
- - Thành bụng phải có 01 vết thương. Vết mổ đường trắng giữa bụng. Thủng tĩnh mạch chủ dưới đã khâu. Thủng tá tràng D3 đã khâu. Thủng ruột non đoạn hồi tràng, cắt bỏ chỗ thủng, đã khâu.
* Đối với Phan Văn H1:
- - Vỡ sọ đỉnh. Vùng đầu có 03 vết thương, bờ gọn. Chân mày phải có 01 vết thương, bờ gọn. Nách phải có 01 vết thương, bờ gọn. Cánh tay phải có 01 vết thương, đứt bán phần cơ nhị đầu cánh tay. Mặt lưng ngón III bàn tay phải có 01 vết thương, bờ gọn, đứt gân duỗi ngón III đã khâu. Lòng bàn tay phải có 01 vết thương, bờ gọn. Đứt lìa ngón II bàn tay trái đã tạo mỏm cụt, đứt gân duỗi ngón III. Kết luận:
* Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y tế, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể từng thương tích của anh Nguyễn Xuân C như sau:
- - Vết thương thành bụng (P): 02% (Chương 8, Mục I.2).
- - Vết mổ đường trắng giữa bụng: 02% (Chương 8, Mục I.2).
- - Thủng tĩnh mạch chủ dưới đã khâu: 10.5% (Chương 2, Mục II.5.1 và Mục II.2.2).
- - Thủng tá tràng D3 đã khâu: 26% (Chương 4, Mục II.1.1).
- - Thủng ruột non đoạn hồi tràng, cắt bỏ chỗ thủng, đã khâu: 46% (Chương 4, Mục III.2.2).
Áp dụng phương pháp cộng tại thông tư, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Xuân C qua hồ sơ là: 66% (Sáu mươi sáu phần trăm).
* Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y tế, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể từng thương tích của anh Phan Văn H1 như sau:
- - Vỡ sọ đỉnh: 08% (Chương 1, mục I.2.1).
- - 01 vết thương đầu: 03% (Chương 8, Mục I.3).
- - 02 vết thương đầu, mỗi vết: 02% (Chương 8, Mục I.2).
- - 01 vết thương chân mày phải, sẹo vùng mặt: 03% (Chương 8, Mục I.3).
- - 01 vết thương cánh tay phải, đã khâu: 03% (Chương 8, Mục I.3).
- - 01 vết thương nách phải, đã khâu: 02% (Chương 8, Mục I.2).
- - 01 vết thương mặt lưng ngón III bàn tay phải, đã khâu: 01% (Chương 8, Mục I.1).
- - 01 vết thương mất da bàn tay (T): 03% (chương 8, mục I.3).
- - Đứt lìa ngón II bàn tay trái đã tạo mỏm cụt: 06% (Chương 7, Mục VI.5.2.5).
Áp dụng phương pháp cộng tại thông tư, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Phan Văn H1 qua hồ sơ là: 29% (Hai mươi chín phần trăm).
* Kết luận khác:
- - Thương tích của anh Nguyễn Xuân C có đặc điểm phù hợp với vật sắc nhọn tác động gây ra.
- - Thương tích của anh Phan Văn H1 có đặc điểm phù hợp với vật sắc tác động gây ra.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường, hồi 18 giờ 40 phút ngày 06 tháng 02 năm 2022, tại tổ Z, khu phố C, phường TD, TP. BH, tỉnh ĐN, nơi xảy ra vụ án: hiện trường xáo trộn và có nhiều vết máu tại hiện trường.
4. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Phan Văn H1 yêu cầu bồi thường số tiền 220.000.000đ. Bị cáo Nguyễn Văn A và Nguyễn Xuân C đã bồi thường cho Phan Văn H1 số tiền 220.000.000đ, nên Phan Văn H1 đã viết giấy bãi nại và không có yêu cầu gì thêm.
5. Truy tố: Cáo trạng số 119/CT-VKS-P2 ngày 31/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn A và Nguyễn Xuân C về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 149/2024/HS-ST ngày 06/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai quyết định:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn A và Nguyễn Xuân C phạm tội “Giết người”.
2. Áp dụng pháp luật và quyết định hình phạt:
Căn cứ n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 15; Điều 57; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
2.1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn A: 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/10/2023.
Căn cứ n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 15; Điều 54, Điều 57; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
2.2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân C: 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/03/2024.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 07/8/2024, bị cáo Nguyễn Văn A và ngày 08/8/2024, bị cáo Nguyễn Xuân C, có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các bị cáo Nguyễn Văn A và Nguyễn Xuân C đều thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã xét xử.
Bị cáo Nguyễn Văn A vẫn giữ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt do hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động chính, nuôi 03 con nhỏ và chăm sóc cha mẹ già.
Bị cáo Nguyễn Xuân C vẫn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt do bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; sau khi sự việc xảy ra đã bồi thường theo yêu cầu của bị hại và được bị hại bãi nại; bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng; hiện nay hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động chính, nuôi 02 con nhỏ.
Luật sư Lê Ngô Phương T1 bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn A trình bày: Thống nhất với tội danh mà cấp sơ thẩm xét xử, tuy nhiên bị cáo còn cha mẹ già, bị cáo là lao động chính gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo có thời gian làm việc trong quân đội, hiện còn nuôi ba con nhỏ, đồng thời bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng. Kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Luật sư Phan Văn T2 bào chữa cho bị cáo Nguyễn Xuân C trình bày: Mâu thuẫn xuất phát từ bị cáo A và bị hại H1, bị cáo C chỉ dùng tay đến để can ngăn chứ không chủ đích dùng hung khí ngay từ đầu. Về vết thương của bị hại được nêu trong kết luận cũng như án sơ thẩm. Tuy nhiên trong trường hợp này tỷ lệ thương tật bị hại H1 29% trong khi bị cáo C thương tật 66%, hành vi dùng cán dao chứ không dùng lưỡi dao cũng chứng minh được bị cáo C hoàn toàn không có mục đích tước đoạt mạng sống của bị hại trước trong và sau khi bị cáo bị đâm vì vậy hành vi bị cáo không phải nhằm mục đích Giết người, hành vi chỉ nhằm mục đích can ngăn mâu thuẫn và tước đoạt 02 con dao nguy hiểm từ bị hại H1. Bị cáo C không hề có vi phạm, nhân thân tốt, đã chủ động dừng lại không thực hiện hành vi đến cùng đồng thời cùng kêu gọi mọi người đến hỗ trợ đưa bị hại đi cấp cứu. Cấp sơ thẩm đánh giá hành vi của bị cáo vào tội danh Giết người là quá khắt khe. Những vết thương trên người bị hại H1 là vết thương hở chỉ vết thương lớn vào đầu xác định tổng thương tích 29% thì thấy rằng bị cáo thực sự không có mục đích tước đoạt sinh mạng của bị hại. Toàn bộ diễn biến sự việc được Camera trích xuất ghi lại cho thấy bị cáo A và bị cáo C đã thống nhất dừng lại, nếu hai bị cáo không dừng lại mà thực hiện đến cùng thì bị hại H1 cũng không thể nào chỉ thương tích 29%. Theo án Lệ số 47 và công văn hướng dẫn thì kính mong Hội đồng xét xử xem xét lại đối với hành vi của bị cáo, để áp dụng thêm tình tiết điểm e khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự về tình tiết tinh thần kích động mạnh hoặc là xét tính có lỗi của bị hại đối với bị cáo để xem xét về tội danh và mức hình phạt đối với bị cáo.
Luật sư Trần Thị T3: Thống nhất quan điểm và lời bào chữa của luật sư T2, thời gian qua bị cáo cũng đã nhận thấy hành vi của mình và ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo Nguyễn Xuân C, tạo điều kiện cho bị cáo được sớm trở về lao động phụ giúp gia đình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
- -Về tố tụng:
- Đơn kháng cáo của các bị cáo, đúng quy định về thời hạn. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, bị cáo và luật sư chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng.
- -Về nội dung:
- Hành vi của các bị cáo đã được tòa án cấp sơ thẩm xem xét toàn diện khách quan, đúng người, đúng tội, không oan. Xét tính chất mức độ hành vi của các bị cáo là đặc biệt nguy hiểm, xâm phạm đến sức khỏe tính mạng của người khác và gây mất trật tự trị an, cấp sơ thẩm cũng đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo là ăn năn, hối cải, thành khẩn khai báo, nhân thân tốt và có đơn xin bãi nại của gia đình bị hại, đồng thời đã xem xét mức độ phạm tội chưa đạt để xác định hình phạt là đã xem xét có phần nhẹ so với hành vi của các bị cáo, không nặng. Tại cấp phúc thẩm các bị cáo không đưa ra được tài liệu chứng cứ gì mới để làm căn cứ xem xét cho kháng cáo của các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của các bị cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Văn A và Nguyễn Xuân C đều thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận tội của các bị cáo được thẩm tra công khai tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, với lời khai của bị hại, người làm chứng, kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở để xác định như sau:
[2.1] Khoảng 15 giờ ngày 06/02/2022, do mâu thuẫn trong việc tranh giành nhau chỗ bán thịt bò tại chợ H, thuộc khu phố C, phường TD, TP.BH, tỉnh ĐN nên Phan Văn H1 gọi điện cho Nguyễn Văn A đến chợ H để giải quyết mâu thuẫn. Nguyễn Văn A rủ em ruột là Nguyễn Xuân C cùng đi. Khi gặp H1, bị cáo Nguyễn Văn A đã dùng con dao phóng lợn tự chế dài khoảng 1,6m chém vào người H1 thì H1 rút 01 con dao bầu dài khoảng 32cm ra đâm một nhát trúng vào bụng C. Nguyễn Văn A thấy C bị đâm thì dùng dao đâm H1 trúng vào cánh tay phải và xuyên vào nách H1, H1 nắm được con dao của A. Cả hai giằng co, còn C chạy về phía xe mô tô để lấy dao. H1 giật được con dao phóng lợn trên tay A thì A lấy trong người ra 01 con dao bầu dài khoảng 27cm rồi đâm H1 nhưng không trúng, còn C lấy 01 con dao rựa bằng kim loại dài khoảng 88cm mang theo chém trúng vào tay H1 làm con dao của H1 rơi xuống đất. A chạy đến ôm H1 giằng co thì C dùng dao chém 01 nhát trúng vào đầu của H1 làm con dao của C rơi xuống đất. A và H1 vật lộn, A đè lên người H1 còn C tiếp tục nhặt con dao rựa và dùng phần sống dao chém vào đầu H1 02 nhát. Hậu quả làm Phan Văn H1 bị vỡ sọ đỉnh, 03 vết thương ở đầu, 01 vết thương chân mày phải, 01 vết thương cánh tay phải, 01 vết thương nách phải, 01 vết thương mặt lưng ngón III bàn tay phải, 01 vết thương mất da bàn tay (T), đứt lìa ngón II bàn tay trái đã tạo mỏm cụt. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 29%.
[2.2] Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống có thể giải quyết bằng cách xử sự khác không sử dụng bạo lực nhưng do bản chất côn đồ mà A đã rủ C tìm H1 để giải quyết mâu thuẫn và sử dụng dao (dao phóng lợn tự chế dài khoảng 1,6m, dao bầu dài khoảng 32cm, dao rựa bằng kim loại dài khoảng 88cm) là hung khí nguy hiểm chém vào đầu và đâm chém vào bụng, nách là các vùng trọng yếu trên cơ thể H1 một cách liên tiếp, cho thấy thái độ hung hăng, coi thường pháp luật, tính mạng con người. Bản thân các bị cáo nhận thức rõ việc dùng dao đâm, chém vào vùng trọng yếu của anh H1 có thể làm bị hại tử vong nhưng vẫn cố ý cùng thực hiện hành vi với cường độ quyết liệt và bỏ mặc hậu quả xảy ra, thể hiện ý thức mong muốn tước đoạt tính mạng của bị hại. Việc anh Phan Văn H1 không chết là do được cứu chữa kịp thời, nằm ngoài ý muốn của các bị cáo.
[2.3] Với các hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Văn A và Nguyễn Xuân C phạm tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[2.4] Đối với hành vi của Phan Văn H1 đã sử dụng hung khí nguy hiểm (dao) đâm vào bụng là vùng trọng yếu trên cơ thể Nguyễn Xuân C (gây thủng ruột), gây thương tích 66%, ngày 13/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh bắt tạm giam đối với Phan Văn H1 để điều tra, xử lý trong vụ án khác theo quy định pháp luật.
[3] Hành vi của các bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng của con người được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang cho dư luận, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội nên cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo.
Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm xác định các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có các tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại cho bị hại và được bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt; gia đình các bị cáo có ông nội tham gia kháng chiến được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba; bị cáo A có thời gian tham gia Quân đội, chưa có tiền án tiền sự, có hoàn cảnh gia đình khó khăn; bị cáo C đầu thú, quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đồng thời xem xét hành vi của các bị cáo thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt, từ đó xử phạt bị cáo A 12 năm tù, bị cáo C 10 năm tù là phù hợp, tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi của các bị cáo gây ra. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không có cơ sở chấp nhận.
[5] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn A và Nguyễn Xuân C cũng như đề nghị của người bào chữa, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[7] Án phí hình sự phúc thẩm: các bị cáo Nguyễn Văn A và Nguyễn Xuân C phải chịu, theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn A và Nguyễn Xuân C. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 149/2024/HS-ST ngày 06/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Tuyên xử:
[1]. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn A và Nguyễn Xuân C phạm tội “Giết người” (Chưa đạt).
[2]. Áp dụng pháp luật và quyết định hình phạt:
Căn cứ n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 15; Điều 57; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
[2.1]. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn A: 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/10/2023.
Căn cứ n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 15; Điều 54, Điều 57; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
[2.2]. Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân C: 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/03/2024.
[3]. Tiếp tục tạm giam các bị cáo Nguyễn Văn A và Nguyễn Xuân C để đảm bảo thi hành án.
[4]. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5]. Án phí hình sự phúc thẩm: các bị cáo Nguyễn Văn A và Nguyễn Xuân C mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Minh |
Bản án số 1164/2024/HS-PT ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về giết người (hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 1164/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Giết người (Hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: hông chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn A và Nguyễn Xuân C. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 149/2024/HS-ST ngày 06/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.