Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

----------

Bản án số: 1163/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 17-9-2024.

V/v Tranh chấp Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Phạm Thị Ngọc
  2. Bà Nguyễn Phước Trinh

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thành Công – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên tòa: Không tham gia phiên tòa.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 811/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2024 về “ Tranh chấp Ly hôn ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 423/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 475/2024/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lê Tuấn K, sinh năm 2002; (Có mặt)

Địa chỉ: E Nguyễn Kim C, tổ E, Ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Bà Lê Thị Hồng L, sinh năm 2003; (Vắng mặt)

Địa chỉ: A L, tổ F, Ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 12/6/2024 và các lời khai tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, nguyên đơn ông Lê Tuấn K trình bày:

Tôi và bà Lê Thị Hồng L chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 53/2022 đăng ký ngày 15/9/2022 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Quá trình chung sống chúng tôi thường xuyên cải vã dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng nghiêm trọng và không thể tiếp chung sống với nhau do hai vợ chồng không hòa hợp, sống với nhau không hạnh phúc. Tôi và bà L đã ly thân từ tháng 04/2023 và hiện tại không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, tôi làm đơn này yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với bà L.

- Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Lê Tuấn A, sinh ngày 20/02/2023. Tôi đồng ý giao 01 (một) con chung cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng. Tôi cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.500.000 đồng/ tháng cho đến khi trẻ Tuấn A đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Ông K tự nguyện chịu toàn bộ án phí.

- Về án phí hôn nhân về nghĩa vụ cấp dưỡng: 300.000đồng, ông K tự nguyện chịu.

* Bị đơn bà Lê Thị Hồng L: Vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Quan hệ tranh chấp giữa ông Lê Tuấn K và bà Lê Thị Hồng L là “Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình”; bị đơn trong vụ án là bà Lê Thị Hồng L hiện cư trú tại huyện C, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn bà Lê Thị Hồng L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà L theo quy định của pháp luật.

[3] Về quan hệ hôn nhân:

Quan hệ vợ chồng giữa ông Lê Tuấn K và bà Lê Thị Hồng L có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 53/2022 đăng ký ngày 15/9/2022 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là hôn nhân hợp pháp.

Ông K trình bày quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên cải vã dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng nghiêm trọng và không thể tiếp chung sống với nhau do hai vợ chồng không hòa hợp, sống với nhau không hạnh phúc. Ông K và bà L đã ly thân từ tháng 04/2023 và hiện tại không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, ông K làm đơn này yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi được ly hôn với bà L.

Trong quá trình giải quyết vụ án, dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà L không đến Tòa án để giải quyết và không có bất cứ tác động nào cho thấy muốn hàn gắn quan hệ gia đình với ông K nên Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu xin ly hôn của ông K đối với bà L là chính đáng. Căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông K đối với bà L.

[4] Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Lê Tuấn A, sinh ngày 20/02/2023. Ông K đồng ý giao 01 (một) con chung cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục. Ông T đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.500.000đồng/tháng cho đến khi trẻ Tuấn A đủ 18 tuổi. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Lê Tuấn A hiện đang chung sống với mẹ là bà Lê Thị Hồng L. Bà L đã nhận được văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không thể hiện ý kiến gì khác. Do đó, để ổn định tâm sinh lý của trẻ, Hội đồng xét xử giao cháu Lê Tuấn A cho bà Lê Thị Hồng L trực tiếp nuôi dưỡng.

Ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng của ông Lê Tuấn K cho trẻ Tuấn A mỗi tháng 2.500.000 đồng/tháng, cấp dưỡng vào ngày 15 tây hàng tháng, bắt đầu cấp dưỡng vào tháng 10/2024 cho đến khi trẻ Tuấn A đủ 18 tuổi.

[5] Về tài sản chung: Ông K xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[6] Về nghĩa vụ dân sự chung: Ông K xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[7] Về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm:

Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Luật Phí và lệ phí năm 2015 và Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Về án phí Hôn nhân sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) ông K tự nguyện chịu và án phí hôn nhân về nghĩa vụ cấp dưỡng 300.000đồng ông K tự nguyện chịu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Luật Phí và lệ phí năm 2015 và Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

1. Chấp nhận yêu cầu của ông Lê Tuấn K là được ly hôn với bà Lê Thị Hồng L.

Giấy chứng nhận kết hôn số: 53/2022 đăng ký ngày 15/9/2022 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Lê Tuấn A, sinh ngày 20/02/2023.

Ông Lê Tuấn K đồng ý giao 01 (một) con chung cho bà Lê Thị Hồng L trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục. Ông K cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.500.000 đồng/tháng, cấp dưỡng vào ngày 15 tây hàng tháng, bắt đầu cấp dưỡng vào tháng 10/2024 cho đến khi trẻ Tuấn A đủ 18 tuổi.

Kể từ ngày bà L có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông K chưa thi hành khoản tiền cấp dưỡng nêu trên thì hàng tháng ông K phải chịu thêm tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo quy định của pháp luật tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi dưỡng con chung có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung.

Vì lợi ích của con chung, bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến quyền này. Khi cần thiết một hoặc cả hai bên có thể yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc quyết định mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) ông Lê Tuấn K phải chịu, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0015697 ngày 09/7/2024 của Chi Cục thi hành án Dân sự huyện Củ Chi. Ông K đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Về án phí hôn nhân nghĩa vụ cấp dưỡng ông K phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - UBND xã Tân Thạnh Tây, h. Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND h. Củ Chi;
  • - Chi Cục THADS h.Củ Chi;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Hồng Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1163/2024/HNGĐ-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 1163/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Tuấn K ly hôn Lê Thị Hồng L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger