|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 1161/2024/HNGĐ-ST Ngày: 17-9-2024. V/v Tranh chấp Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Thị Ngọc
- Bà Nguyễn Phước Trinh
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thành Công – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên tòa: Không tham gia phiên tòa.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 780/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 475/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 553/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị Thu G, sinh năm 2004. (Có mặt)
Địa chỉ: 3 đường N, khu phố D, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Phan Võ Sơn H, sinh năm 2003. (Vắng mặt)
Địa chỉ: 2 đường D, tổ G, ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 19/6/2024 và các lời khai tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, nguyên đơn bà Trịnh Thị Thu G trình bày:
Tôi và ông Phan Võ Sơn H tự nguyện đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 51 ngày 03/7/2023.
Sau khi kết hôn, hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, không đồng quan điểm, ông H không chăm sóc cho vợ con, không chăm lo cuộc sống gia đình, thường đi sớm về khuya, không chu cấp cho tôi nuôi con và có những mối quan hệ ngoài luồng khác từ lúc tôi sinh cháu N. Bố mẹ chồng suốt ngày cãi nhau lôi tôi và gia đình tôi vào và có những lời nói thô tục, xúc phạm tới tôi và gia đình. Tôi sinh con không cho tôi về ở cử cũng không chăm sóc tôi và cháu N để hai mẹ con tôi tự chăm nhau lúc ở cử.
Về con chung có 01 con tên: Phan Trịnh Mẫn N, sinh ngày 24/11/2023. Bà G yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000đồng/ tháng, cấp dưỡng vào ngày 15 tây hàng tháng, bắt đầu cấp dưỡng vào tháng 10/2024 cho đến khi trẻ Mẫn N đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nghĩa vụ dân sự: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà G tự nguyện chịu toàn bộ án phí.
* Bị đơn ông Phan Võ Sơn H: Vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Quan hệ tranh chấp giữa bà Trịnh Thị Thu G và ông Phan Võ Sơn H là “Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình”; bị đơn trong vụ án là ông Phan Võ Sơn H hiện cư trú tại huyện C, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn ông Phan Võ Sơn H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông H theo quy định của pháp luật.
[3] Về quan hệ hôn nhân:
Quan hệ vợ chồng giữa bà Trịnh Thị Thu G và ông Phan Võ Sơn H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn số 51 ngày 03 tháng 7 năm 2023. Đây là hôn nhân hợp pháp.
Bà G trình bày sau khi kết hôn, hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, không đồng quan điểm, ông H không chăm sóc cho vợ con, không chăm lo cuộc sống gia đình, thường đi sớm về khuya, không chu cấp cho bà nuôi con và có những mối quan hệ ngoài luồng khác từ lúc bà sinh cháu N. Bố mẹ chồng suốt ngày cãi nhau lôi bà và gia đình bà vào và có những lời nói thô tục, xúc phạm tới bà và gia đình. Bà sinh không cho bà về ở cử cũng không chăm sóc bà và cháu N để hai mẹ con bà tự chăm nhau lúc ở cử. Nên nay bà làm đơn này yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi được ly hôn với ông Phan Võ Sơn H.
Trong quá trình giải quyết vụ án, dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông H không đến Tòa án để giải quyết và không có bất cứ tác động nào cho thấy muốn hàn gắn quan hệ gia đình với bà G nên Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu xin ly hôn của bà G đối với ông H là chính đáng. Căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà G đối với ông H.
[4] Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Phan Trịnh Mẫn N, sinh ngày 24/11/2023. Bà G yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 01 (một) con chung tên Phan Trịnh Mẫn N, bà G yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000đồng/tháng, cấp dưỡng vào ngày 15 tây hàng tháng, bắt đầu cấp dưỡng vào tháng 10/2024 cho đến khi trẻ Mẫn N đủ 18 tuổi. Hội đồng xét xử xét thấy, trẻ N hiện đang chung sống với mẹ là bà G. Ông H đã nhận được văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không thể hiện ý kiến gì khác. Do đó, để ổn định tâm sinh lý của trẻ, Hội đồng xét xử giao cháu N cho bà G trực tiếp nuôi dưỡng và ông H cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000đồng/tháng, cấp dưỡng vào ngày 15 tây hàng tháng, bắt đầu cấp dưỡng vào tháng 10/2024 cho đến khi trẻ Mẫn N đủ 18 tuổi.
[5] Về tài sản chung: Bà G xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[6] Về nghĩa vụ dân sự chung: Bà G xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[7] Về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm:
Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Luật Phí và lệ phí năm 2015 và Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Về án phí Hôn nhân sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) bà Trịnh Thị Thu G tự nguyện chịu.
Về án phí hôn nhân về nghĩa vụ cấp dưỡng 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) ông Phan Võ Sơn H phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật Phí và lệ phí năm 2015 và Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
- Chấp nhận yêu cầu của bà Trịnh Thị Thu G là được ly hôn với ông Phan Võ Sơn H.
Giấy chứng nhận kết hôn số: 51 ngày 03 tháng 7 năm 2023 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Phan Trịnh Mẫn N, sinh ngày 24/11/2023. Bà G yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến khi trưởng thành. Bà G yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng/tháng, cấp dưỡng vào ngày 15 tây hàng tháng, bắt đầu cấp dưỡng vào tháng 10/2024 cho đến khi trẻ Mẫn N đủ 18 tuổi.
Kể từ ngày bà G có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông H chưa thi hành khoản tiền cấp dưỡng nêu trên thì hàng tháng ông H phải chịu thêm tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo quy định của pháp luật tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi dưỡng con chung có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung.
Vì lợi ích của con chung, bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến quyền này. Khi cần thiết một hoặc cả hai bên có thể yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc quyết định mức cấp dưỡng nuôi con.
- Tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) bà Trịnh Thị Thu G phải chịu, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0015643 ngày 03/7/2024 của Chi Cục thi hành án Dân sự huyện Củ Chi. Bà G đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Án phí hôn nhân về nghĩa vụ cấp dưỡng 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) ông Phan Võ Sơn H phải chịu.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Hồng Ngọc |
Bản án số 1161/2024/HNGĐ-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 1161/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trịnh Thị Thu G ly hôn Phan Võ Sơn H
