|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 116/2024/HNGĐ-ST
Ngày 31-7-2024
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liễng.
- Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Văn Hoàn.
- Bà Nguyễn Thị Thu Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Tường Vy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh- Kiểm sát viên.
Trong ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 168/2024/TLST – HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2024, về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 84/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị D, sinh năm 1989; thường trú: Xóm Đ, xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An; nơi ở hiện tại: Số E, hẻm A đường A, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Dương Quốc N, sinh năm 1980; thường trú: Số E, hẻm A đường A, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện đề ngày 08 tháng 4 năm 2024, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Hoàng Thị D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị D và anh Dương Quốc N sau một thời gian tìm hiểu thì tự nguyện chung sống với nhau, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N (nay là xã T) huyện N, tỉnh Nghệ An theo Giấy chứng nhận kết hôn số 11/2011, quyển số 01/2011 ngày 11/3/2011.
Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống tại Khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh N có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, chị D đã khuyên nhủ để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được, ngoài ra anh N còn không quan tâm đến vợ, con. Nay chị D xác định tình cảm vợ chồng không còn yêu cầu được ly hôn với anh N.
Về con chung: Chị Hoàng Thị D và anh Dương Quốc N có 03 con chung là cháu Dương Hoài Xuân M, sinh ngày 24/01/2012; cháu Dương Hoài Trăm A, sinh ngày 12/9/2018 và cháu Dương Hoài Xuân T, sinh ngày 17/3/2020. Sau ly hôn, chị Hoàng Thị D yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung và tự nguyện không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Dương Quốc N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 10/6/2024 và tham gia phiên tòa vào các ngày 12/7/2024, 31/7/2024 nhưng vắng mặt không lý do, đồng thời cũng không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị D, không cung cấp tài liệu chứng cứ liên quan đến vụ án.
- Tại biên bản xác minh ngày 22/5/2024, Hội Liên hiệp phụ nữ phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương cung cấp thông tin sau: Trước khi khởi kiện ly hôn tại Tòa án, Hội Liên hiệp phụ nữ phường T không có thông tin trình báo về mâu thuẫn giữa vợ chồng anh Dương Quốc N và chị Hoàng Thị D. Vì vậy, về tình trạng quan hệ hôn nhân, nghề nghiệp, nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh N và chị D, Hội Liên hiệp phụ nữ phường T không biết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã được thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Sự chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật liên quan. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, Tòa án căn cứ các Điều 227, 228 để xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án nhận thấy yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở theo quy định pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An nhận định:
- [1] Về tố tụng: Bị đơn là anh Dương Quốc N đã được tòa án triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 10/6/2024 và tham gia phiên tòa vào các ngày 12/7/2024, 31/7/2024 nhưng vắng mặt không lý do; nguyên đơn có yêu cầu giải quyết vắng mặt, căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.
- [2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị D và anh Dương Quốc N có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 11/2011, quyển số 01/2011 ngày 11/3/2011 tại Ủy ban nhân dân xã N (nay là xã T) huyện N, tỉnh Nghệ An nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
- [3] Theo đơn khởi kiện và lời trình bày trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị D xác định mâu thuẫn vợ chồng là do anh N có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, không quan tâm đến vợ, con. Mặc dù, chị D đã khuyên nhủ, bỏ qua để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh N vẫn không thay đổi. Quá trình tố tụng, Tòa án đã triệu tập anh N để hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng, nhưng anh N không đến, điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa chị D và anh N đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của chị D là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
- [4] Về con chung: Chị Hoàng Thị D và anh Dương Quốc N có 03 con chung là cháu Dương Hoài Xuân M, sinh ngày 24/01/2012; cháu Dương Hoài Trăm A, sinh ngày 12/9/2018 và cháu Dương Hoài Xuân T, sinh ngày 17/3/2020. Chị Hoàng Thị D yêu cầu là người trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung. Xét thấy, cả 03 cháu Dương Hoài Xuân M, Dương Hoài Trăm A, Dương Hoài Xuân T là con gái đang ở tuổi vị thành niên cần sự chăm sóc của mẹ, riêng cháu Dương Hoài Xuân M cũng có nguyện vọng ở với mẹ, đồng thời anh N không có ý kiến gì về yêu cầu của chị D. Vì vậy, căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân gia đình, Tòa án giao con chung cho chị Hoàng Thị D trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị D về việc không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.
- [5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Hoàng Thị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- [6] Ý kiến của Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Tòa án nên chấp nhận.
- [7] Án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn: Chị Hoàng Thị D phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, các Điều 235, 271, 227, 228, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị D về tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn anh Dương Quốc N.
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị D được ly hôn với anh Dương Quốc N [Giấy chứng nhận kết hôn số 11/2011, quyển số 01/2011 do Ủy ban nhân dân xã N (nay là xã T) huyện N, tỉnh Nghệ An cấp ngày 11/3/2011].
- - Về con chung: Giao con chung tên Dương Hoài Xuân M, sinh ngày 24/01/2012; Dương Hoài Trăm A, sinh ngày 12/9/2018 và Dương Hoài Xuân T, sinh ngày 17/3/2020 cho chị Hoàng Thị D trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Hoàng Thị D về việc không yêu cầu anh Dương Quốc N cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, chị Hoàng Thị D phải tạo điều kiện cho anh Dương Quốc N trong việc chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở ông, bà thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng.
- 2. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- 3. Về án phí sơ thẩm: Chị Hoàng Thị D phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002950 ngày 14 tháng 5 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Liễng |
Bản án số 116/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 116/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Thị D tranh chấp ly hôn, nuôi con với Dương Quốc N
