|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 116/2024/HS-ST Ngày: 30/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Công Chi
Ông Ngô Văn Sỹ
Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Phương Thùy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Bách - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 94/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Đức L, sinh ngày 20/4/1997 tại thành phố Đà Nẵng; Nơi cư trú: Tổ G, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức K và bà Phan Thị T.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 31/8/2016 bị Công an quận C ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Xâm hại hoặc thuê người khác xâm hại sức khỏe của người khác” theo Quyết định số 76/QĐ-XPHC;
- Ngày 14/3/2024 bị Công an quận L ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định số 122/QĐ-XPHC.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 29/02/2024, tạm giam ngày 09/3/2024. Có mặt.
2. Lê Ngọc H, sinh ngày 15/11/1993 tại thành phố Đà Nẵng; Nơi đăng ký thường trú: Tổ I, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; nơi ở: Tổ A, phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn C và bà Trương Thị C1; có vợ là Nguyễn Thị Thu H1 (sinh năm 1994) và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2020.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 26/12/2011 bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt 05 năm tù về tội “Giết người” theo Bản án số 41/2011/HSST;
- Ngày 20/10/2015 bị Công an quận L ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi “Ném gạch, đất, đá, cát hoặc bất cứ vật gì vào nhà, vào phương tiện giao thông và người, đồ vật, tài sản của người khác” theo Quyết định số 12/QĐ-XPHC;
- Ngày 14/3/2024 bị Công an quận L ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định số 121/QĐ-XPHC.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 29/02/2024, tạm giam ngày 09/3/2024. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Đức K, sinh năm 1977; trú tại: Tổ G, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tối ngày 28/02/2024, Nguyễn Đức L liên lạc với Lê Ngọc H để rủ Hết mua ma túy đá về cùng sử dụng và được H đồng ý. L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Jupiter, biển kiểm soát 43G1-193.89 đến chở H về nhà L tại tổ G phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Tại đây, L đưa cho H số tiền 300.000 đồng để mua ma túy. Sau đó, H liên hệ qua ứng dụng Messenger với một nam thanh niên tên H2 (không rõ nhân thân, lai lịch) có tên tài khoản Facebook là “H2 chủ nhật” để hỏi mua 01 (một) gói ma túy đá với giá 300.000 đồng và hẹn giao dịch mua bán tại một căn Shophouse không có người ở trên đường N, quận L, thành phố Đà Nẵng. Hết điều khiển xe mô tô hiệu Yamha Jupiter, biển kiểm soát 43G1-193.89 mượn của L để đi đến điểm hẹn, lấy 01 (một) gói ma túy đá được H2 để sẵn trước đó ở căn S rồi Hết để tiền lại đây theo hướng dẫn của H2. Sau khi mua ma túy đá xong, H về lại nhà của L. Tuy nhiên vì thời gian đã khuya, thấy mệt và sợ gia đình L biết nên H và L không sử dụng ma túy mà đi ngủ, chờ hôm sau tìm địa điểm sử dụng. Đến khoảng trưa ngày 29/02/2024, H điều khiển xe mô tô hiệu Yamha Jupiter, biển kiểm soát 43G1-193.89 chở L đi tìm địa điểm để sử dụng ma túy. Khi đi, L mang theo 01 (một) hộp giấy, bên trong có chứa một gói ma túy đá, một nỏ thủy tinh và một nắp nhựa có gắn ống hút. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, khi H và L đi đến ngã ba đường H - L thuộc phường H, quận L thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận L phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trong túi áo khoác của L một hộp giấy chứa 01 (một) gói nylon, được quấn băng dính màu xanh, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng được niêm phong ký hiệu A và các tang vật khác có liên quan.
Theo Bản Kết luận giám định số 191/KL-KTHS ngày 06 tháng 03 năm 2024 của Phòng K1, Công an thành phố Đ kết luận: Mẫu chất tinh thể màu trắng trong phong bì niêm phong ký hiệu A gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamin, khối lượng mẫu A: 0,1256 gam.
Tại bản cáo trạng số 93/CT-VKS ngày 13 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố các bị cáo Nguyễn Đức L và Lê Ngọc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo như Cáo trạng đã đề cập; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đức L và Lê Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, và đề nghị:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức L từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Ngọc H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự phạt tiền mỗi bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu huỷ đối với toàn bộ chất ma túy còn lại sau khi đã giám định; tịch thu sung ngân sách Nhà nước đối với 01 điện thoại di động của bị cáo Nguyễn Đức L và 01 điện thoại di động của bị cáo Lê Ngọc H; trả lại 01 xe mô tô hiệu gắn BKS 43G1-193.89 cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Đức K.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều khai nhận diễn biến vụ án đúng như cáo trạng đã đề cập. Các bị cáo không có ý kiến gì về mặt tội danh cũng như điều luật mà đại diện Viện kiểm sát truy tố và đề nghị áp dụng, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm vấn công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà, căn cứ biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có cơ sở khẳng định: Vào lúc 12 giờ 10 phút, ngày 29 tháng 02 năm 2024, tại ngã ba đường H giao đường L thuộc phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng bị cáo Nguyễn Đức L và Lê Ngọc H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,1256 gam ma tuý loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận L kiểm tra hành chính phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 93/CT-VKS ngày 13 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt.
[4] Xét hành vi phạm tội, tính chất vụ án, nhân thân của từng bị cáo thì thấy: Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn. Các bị cáo là những người trưởng thành, nhận thức rõ tác hại của ma túy và biết hành vi tàng trữ các chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên các bị cáo vẫn bất chấp cùng nhau thực hiện. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây tổn hại đến sức khỏe và làm ảnh hưởng đến trật tự trị an của xã hội. Các bị cáo đều có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt hành chính, bị cáo H đã bị Toà án xét xử nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy cần xử các bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo, cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng các bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo phạm tội về ma túy nên cần áp dụng khoản khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với toàn bộ chất ma tuý còn lại sau khi đã giám định và 01 hộp giấy bên trong có 01 nỏ thủy tinh và 01 nắp nhựa có gắn ống hút Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J5, gắn sim số 0768567922 và sim số 0931984199 của bị cáo Lê Ngọc H và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A21, gắn sim số 0789413341 của bị cáo Nguyễn Đức L là phương tiện các bị cáo liên lạc để rủ nhau mua ma tuý nên cần tịch thu, sung ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Jupiter màu đen xám bạc, gắn BKS 43G1-193.89 là xe của ông Nguyễn Đức K, ông Nguyễn Đức K không biết việc các bị cáo sử dụng vào việc đi mua ma tuý nên cần trả lại xe mô tô nói trên cho ông Nguyễn Đức K.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Về các vấn đề có liên quan đến vụ án:
[8.1] Đối với đối tượng tên H2 bán ma túy cho Lê Ngọc H, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý sau.
[8.2] Đối với ông Nguyễn Đức K có hành vi cho bị cáo Nguyễn Đức L mượn xe mô tô để sử dụng, ông K không biết việc L đưa xe cho H đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có cơ sở.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Đức L và Lê Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
1. Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị bắt, tạm giữ là ngày 29/02/2024.
2. Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Lê Ngọc H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị bắt, tạm giữ là ngày 29/02/2024.
3. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt tiền bị cáo Nguyễn Đức L 5.000.000 đồng (năm triệu đồng);
Xử phạt tiền bị cáo Lê Ngọc H 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tuyên tịch thu, tiêu hủy đối với: Toàn bộ chất ma túy còn lại sau giám định trong 01 (một) phong bì được niêm phong, 01 (một) hộp giấy bên trong có 01 nỏ thủy tinh và 01 nắp nhựa có gắn ống hút.
Tuyên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J5, gắn sim số 0768567922 và sim số 0931984199 của bị cáo Lê Ngọc H và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A21, gắn sim số 0789413341 của bị cáo Nguyễn Đức L.
Tuyên trả lại cho ông Nguyễn Đức K 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Jupiter màu đen xám bạc, gắn BKS 43G1-193.89.
(Toàn bộ vật chứng hiện Chi Cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/7/2024).
5. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Buộc các bị cáo Nguyễn Đức L và Lê Ngọc H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, báo cho các bị cáo có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Anh Tuấn |
Bản án số 116/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 116/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: các bị cáo L và H tàng trữ trái phép ma túy
