Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN LẠNG GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 116/2023/HS-ST

Ngày 29-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Văn Cương

Ông Bùi Thế Vịnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Mạnh Sỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tiến hành mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 110/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Văn Q; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Sinh năm 1983;

Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn D, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 12/12; Họ và tên bố: Nguyễn Văn Q1, sinh năm 1953; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị M, sinh năm 1954; Gia đình có 05 chị em, bị cáo là thứ năm; Vợ: Đinh Thị Mai T, sinh năm 1991 (đã ly hôn); Bị cáo có 01 con, sinh năm 2011;

- Tiền án: Bản án số 68/2019/HSST ngày 30/8/2019 của TAND huyện Lạng Giang xử phạt Quyết 12 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/6/2020, nộp án phí hình sự, dân sự sơ thẩm ngày 14/7/2022 nhưng chưa chấp hành xong phần bồi thường dân sự (chưa được xoá án tích).

- Tiền sự: Không có;

- Nhân thân:

  • + Ngày 14/6/2011, Q bị Công an phường T, thành phố B xử phạt hành chính số tiền 500.000 đồng do có hành vi “ Sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • + Ngày 14/10/2011, Q bị Chủ tịch UBND huyện L Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh thời gian 24 tháng do có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • + Ngày 08/9/2014, Q bị TAND thành phố Bắc Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 192/2014/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/5/2015 (đã được xóa án tích).
  • + Ngày 07/9/2015 Q bị TAND thành phố Bắc Giang xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 109/2015/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/3/2016 (đã được xóa án tích).
  • + Ngày 16/9/2019, Q bị Công an huyện T, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính số tiền 3.000.000 đồng do có hành vi “Sử dụng vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ trái phép".

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/8/2023. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh B có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Lê Đức H; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam. Sinh năm 1995;

Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 8/12; Họ tên bố: Lê Đức Đ, sinh năm 1963; Họ tên mẹ: Đào Thị T1, sinh năm 1964; Gia đình có 04 chị em, bị cáo là thứ ba; Vợ: Hoàng Thị M1, sinh năm 1998 (đã ly hôn); Bị cáo có 01 con, sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không có;

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/8/2023. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh B có mặt tại phiên tòa.

- Người chứng kiến:

1. Anh Trần Minh T2, sinh năm 1989 (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố Tân Tiến, thị trấn Bố Hạ, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang

2. Anh Cáp Trọng Q2, sinh năm 2003 (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Văn Q, sinh năm 1983, trú tại: thôn D, xã T, huyện L, tỉnh Bắc GiangLê Đức H, sinh năm 1995, trú tại: thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn là bạn bè quen biết, cả hai đều không có việc làm và là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 12 giờ ngày 15/8/2023, Q đang ở nhà ở thôn D, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang thì H đến chơi. Tại đây, Q rủ H đi xuống thành phố B mua ma tuý về chia nhỏ bán kiếm lời và cùng sử dụng, H đồng ý. Sau đó, Q điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 12H1-172.27 chở H đi đến gần khu vực gần bến xe khách thành phố B, tỉnh Bắc Giang thì dừng lại để H xuống xe đứng đợi, còn Q đi vào khu vực bến xe tìm mua ma tuý. Tại đây, Q đặt vấn đề mua của một người đàn ông không quen biết (Q khai không rõ họ, tên và địa chỉ) 1.500.000 đồng tiền ma túy loại Heroine, người đàn ông này đồng ý. Sau khi thoả thuận, Q đưa cho người đàn ông số tiền 1.500.000 đồng thì được người này đưa cho một túi ni lon bên trong có chứa ma tuý H1 và cho thêm 01 viên ma túy “Ngựa”. Mua được ma tuý, Q quay lại đón và điều khiển xe mô tô chở H về nhà mình. Tại đây, Q và H dùng dao lam chia nhỏ số ma túy mua được trước đó vào các đoạn ống nhựa, dùng bật lửa ga hàn kín hai đầu lại rồi cho vào 02 lọ thủy tinh. Sau khi chia ma tuý, Q đút toàn bộ số ma tuý này vào túi quần bên phải đang mặc rồi điều khiển xe mô tô 12H1-172.27 chở H lên thị trấn K, huyện L mục đích bán cho các đối tượng sử dụng. Khoảng 16 giờ cùng ngày, Q chở H đi đến đoạn đường Q, trước cổng nhà khách H3, thuộc tổ dân phố N, thị trấn V, huyện L thì bị Tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện L phối hợp với Công an thị trấn Vôi phát hiện bắt quả tang, thu tại túi quần bên phải phía trước Q đang mặc 02 lọ thủy tinh bên trong đựng nhiều đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu, bên trong mỗi ống nhựa có chất bột màu trắng nghi làm ma túy.

Cùng ngày 15/8/2023, tại Cơ quan điều tra Lê Đức H đầu thú về hành vi đồng phạm với Nguyễn Văn Q trong việc mua bán trái phép chất ma túy.

- Vật chứng, tài sản thu giữ của Nguyễn Văn Q khi bắt quả tang gồm:

  • + Thu giữ tại túi quần bên phải phía trước Quyết đang mặc: 01 lọ thủy tinh màu nâu hình trụ tròn có nắp xoáy bằng kim loại màu vàng - trắng, bên trong đựng 20 đoạn ống nhựa đều được hàn kín hai đầu (gồm 08 đoạn màu cam có kẻ sọc màu trắng, 04 đoạn màu tím có kẻ sọc màu trắng, 03 đoạn màu xanh có kẻ sọc màu trắng, 02 đoạn màu trắng có kẻ sọc màu đỏ, 02 đoạn màu hồng, bên trong mỗi đoạn ống có chứa chất cục bột nghi là ma túy Heroine và 01 đoạn màu trắng có kẻ sọc màu đỏ bên trong đựng mảnh viên nén nghi là ma túy tổng hợp); 01 lọ thủy tinh màu nâu hình trụ tròn bị vỡ một đầu, bên trong đựng 21 đoạn ống nhựa đều được hàn kín hai đầu (gồm 08 đoạn màu cam có kẻ sọc màu trắng, 07 đoạn màu tím có kẻ sọc màu trắng, 02 đoạn màu xanh có kẻ sọc màu trắng, 03 đoạn màu hồng, bên trong mỗi đoạn ống nhựa đều đựng chất cục bột nghi là ma túy Heroine và 01 đoạn màu trắng có kẻ sọc màu đỏ, bên trong đựng mảnh viên nén nghi là ma túy tổng hợp). Số vật chứng thu giữ nghi là ma túy được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “QT”.
  • + Thu giữ tại túi quần phía trước bên trái Q đang mặc: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh đã qua sử dụng, số IMEI1: 866314051801130, số IMEI2: 866314051801122.
  • + Thu giữ tại túi quần phía sau bên phải Q đang mặc: 01 chiếc ví giả da màu nâu, trên ví có chữ LEVIS, bên trong có số tiền 11.350.000 đồng, tiền thu giữ được niêm phong trong phong bì ký hiệu “Tiền thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Văn Q”.

Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của Q: 03 chiếc bật lửa gas, 01 con dao tem nhãn hiệu DORCO, 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave RSX màu đỏ- đen đã qua sử dụng, số khung RLHHC12358Y374530, số máy HC12E-2107813; 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu trắng, 01 đồng hồ nhãn hiệu SEIKO có dây đeo giả da màu nâu, dây chuyền và đồng hồ được niêm phong trong phong bì ký hiệu “Dây chuyền và đồng hồ của Nguyễn Văn Q”.

- Vật chứng tạm giữ của Lê Đức H gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen có ốp lưng bằng nhựa trong suốt, số IMEI 359151074260959 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia X3 màu đen, dạng máy trượt, số seri 351536046095988.

Cùng ngày 15/8/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành khám xét chỗ ở của Nguyễn Văn QLê Đức H nhưng không phát hiện đồ vật, tài liệu gì liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy.

Tại bản Kết luận giám định số 1537/KL-KTHS ngày 18/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:

“Trong 01 (một) hộp giấy dạng hình hộp chữ nhật, ký hiệu “QT” đã được niêm phong gửi giám định:

  • - Trong 01 (một) lọ thủy tinh hình trụ màu nâu, có nắp xoáy bằng kim loại:
    • + Chất cục bột màu trắng đựng trong 19 đoạn ống nhựa đều được hàn kín hai đầu (trong đó có 08 (tám) đoạn màu cam có kẻ sọc màu trắng; 04 (bốn) đoạn màu tím có kẻ sọc màu trắng; 03 (ba) đoạn màu xanh có kẻ sọc màu trắng; 02 (hai) đoạn màu trắng có kẻ sọc màu đỏ và 02 đoạn màu (hồng) là ma túy, có tổng khối lượng 0,547 gam, loại Heroine.
    • + Mảnh viên nén màu hồng đỏ đựng trong 01 đoạn màu trắng có kẻ sọc màu đỏ được hàn kín hai đầu là ma túy, có khối lượng 0,033 gam, loại Methamphetamine.
  • - Trong 01 (một) lọ thủy tinh hình trụ màu nâu bị vỡ một đầu được quấn bằng băng dính màu trắng:
    • + Chất cục bột màu trắng đựng trong 20 đoạn ống nhựa đều được hàn kín hai đầu (trong đó có 08 đoạn màu cam có kẻ sọc màu trắng; 07 đoạn màu tím có kẻ sọc màu trắng; 02 đoạn màu xanh có kẻ sọc màu trắng và 03 đoạn màu hồng) là ma túy, có tổng khối lượng 0,577 gam, loại Heroine.
    • + Mảnh viên nén màu hồng đỏ đựng trong 01 (một) đoạn màu trắng có kẻ sọc màu đỏ được hàn kín hai đầu là ma túy, có khối lượng 0,032 gam, loại Methamphetamine”.

Tại kết luận giám định ADN số: HT 477.23/PY-XNSH ngày 23/8/2023 của Viện pháp y Q3 - Cục Q4, kết luận: “Dấu vết trên 41 đoạn ống nhựa được niêm phong trong phong bì ký hiệu “Vỏ, bao, gói hoàn lại “QT” gửi giám định có sinh phẩm của người, có ADN nhiễm sắc thể thường với nồng độ thấp, không đủ điều kiện so sánh.

Phân tích được ADN nhiễm sắc thể thường từ mẫu tóc của Nguyễn Văn QLê Văn H2 gửi giám định; ADN và kiểu gen được lưu tại khoa xét nghiệm sinh học, Q3”.

Tại cơ quan điều tra các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Cáo trạng số 113/CT-VKS ngày 07/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố các bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt Nguyễn Văn Q từ 03 ( ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam ngày 15/8/2023. Phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt Lê Đức H từ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam ngày 15/8/2023. Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý về vật chứng, tiền án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Nhất trí với lời luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát; các bị cáo không tranh luận, không bào chữa cho mình; Lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét, đánh giá một cách khách quan, toàn diện, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người làm chứng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với người chứng kiến đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Xét thấy quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai lưu tại hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ vào Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của người chứng kiến trong quá trình điều tra tại phiên tòa.

[2] Về căn cứ xác định hành vi của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu. Lời khai của người chứng kiến phù hợp với tang vật thu giữ được về thời gian, không gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án, các kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ đã có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 16 giờ ngày 15/8/2023, tại đoạn đường Q, trước cổng nhà khách H3, thuộc tổ dân phố N, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Nguyễn Văn QLê Đức H có hành vi tàng trữ trái phép 1,124 gam ma túy loại Heroine và 0,065 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích bán cho các đối tượng sử dụng thì bị Tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện L phối hợp với Công an thị trấn V, huyện L phát hiện bắt quả tang đối với Q cùng vật chứng; cùng ngày 15/8/2023, tại Cơ quan điều tra H đầu thú về hành vi đồng phạm với Q trong việc mua bán trái phép chất ma tuý.

Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo là người đủ tuổi, đủ năng lực trách nhiệm hình sự, tội và hình phạt được quy định khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Việc các bị cáo bị truy tố, xét xử với tội danh và điều luật viện dẫn ở trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Trong tình hình xã hội hiện nay, tệ nạn ma túy đang là vấn đề nhức nhối cho xã hội và ngày càng có diễn biến phức tạp, nó là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến nhiều loại tội phạm và vi phạm pháp luật khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân phá vỡ hạnh phúc gia đình, suy thoái đạo đức xã hội. Các bị cáo nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là trái pháp luật và tính nguy hiểm của nó nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội nêu trên. Do đó cần phải xử lý về hình sự để giáo dục các bị cáo trở thành công dân biết tuân thủ pháp luật.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo Hội đồng xét xử thấy:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Q bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo H sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS.

Xét về tính chất vụ án, vai trò của các bị cáo thì thấy: Đây là vụ án có đồng phạm giản đơn. Bị cáo Nguyễn Văn Q là người chủ động bỏ tiền ra mua ma túy về chia nhỏ mang đi bán mục đích để kiếm lời nên phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò chính thứ nhất trong vụ án, bị cáo H có hành vi giúp sức cho Q giữ vai trò cuối trong vụ án.

Từ những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo nêu trên. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mua bán ma tuý là vi phạm pháp luật, song các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội nên buộc các bị cáo cách ly khỏi xã hội một thời gian cần thiết để giáo dục riêng đối với từng bị cáo và góp phần răn đe, phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

Do hiện nay các bị cáo đang bị tạm giam nên HĐXX Quyết định tạm giam các bị cáo theo quy định tại Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự để đảm bảo thi hành án.

Về hình phạt bổ sung bằng tiền: Đối với bị cáo Nguyễn Văn Q là đối tượng nghiện ma túy nhưng có tài sản do vậy cần áp dụng khoản 5 Điều 251 phạt bổ sung bằng tiền 10.000.000 đồng sung công quỹ Nhà nước.

Đối với bị cáo Lê Đức H là đối tượng nghiện ma túy, gia đình thuộc diện hộ nghèo, nên HĐXX không áp dụng phạt bổ sung bằng tiền đối bị cáo.

[5] Đối với các nội dung khác có liên quan trong vụ án: Đối với người đàn ông lái xe ôm bán ma túy cho Q ở khu vực gần Bến xe B. Quá trình điều tra Q khai không biết tên, tuổi, địa chỉ của người đó ở đâu và cũng không mô tả được đặc điểm nhận dạng nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ nên HĐXX không đặt ra xem xét, giải quyết.

[6] Về vật chứng: Căn cứ quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 01 hộp giấy hình chữ nhật được niêm phong ký hiệu “QT” bên trong có 0,826 gam ma túy loại Heroin được hoàn lại sau giám định; 01 phong được ký hiệu “Vỏ, bao hoàn lại của “QT”. “HT477.23-1” bên trong có 02 lọ thủy tinh và 41 đoạn ống nhựa được hoàn lại sau giám định là vật chứng của vụ án; 03 chiếc bật lửa gas, 01 con dao tem nhãn hiệu DORCO; 01 chiếc biển kiểm soát BKS 12H1-172.27 là biển số do Q nhặt được lắp vào sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc ví giả da màu nâu đã qua sử dụng, trên ví có chữ LEVIS; số tiền 11.350.000 đồng, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh, 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu trắng, 01 đồng hồ nhãn hiệu SEIKO là tài sản của cá nhân Q không dùng vào việc phạm tội nay cần trả lại bị cáo Q nhưng tạm giữ số tiền để đảm bảo thi hành án.

Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ- đen số khung RLHHC12358Y374530, số máy HC12E-2107813 là phương tiện Quyết dùng để đi mua bán ma túy nay cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone màu đen và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia X3 màu đen là tài sản của cá nhân H không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo H.

[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn Q phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Do bị cáo Lê Đức H gia đình là đối tượng hộ nghèo nên miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại các Điều 12, 14, 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

[8] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

[9] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xử lý đối với hành vi phạm tội của các bị cáo về tội danh, điều khoản, phân tích về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị mức hình phạt áp dụng đối với các bị cáo, xử lý vật chứng, án phí phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt Nguyễn Văn Q 03 ( ba) năm 03 ( ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam ngày 15/8/2023.

Phạt bổ sung bằng tiền 10.000.000 đồng ( mười triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt Lê Đức H 02 ( hai) năm 03 ( ba) tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam ngày ngày 15/8/2023.

Miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 hộp giấy hình chữ nhật được niêm phong ký hiệu “QT” bên trong có 0,826 gam ma túy loại Heroin được hoàn lại sau giám định; 01 phong được ký hiệu “Vỏ, bao hoàn lại của “QT”. “HT477.23-1” bên trong có 02 lọ thủy tinh và 41 đoạn ống nhựa được hoàn lại sau giám định; 03 chiếc bật lửa gas, 01 con dao tem nhãn hiệu DORCO; 01 chiếc biển kiểm soát 12H1-172.27.

Trả lại bị cáo Nguyễn Văn Q 01 chiếc ví giả da màu nâu đã qua sử dụng, trên ví có chữ LEVIS; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh đã qua sử dụng, số IMEI1: 866314051801130, số IMEI2: 866314051801122, 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu trắng, 01 đồng hồ nhãn hiệu SEIKO có dây đeo giả da màu nâu và số tiền 11.350.000 đồng, nhưng tạm giữ số tiền để đảm bảo thi hành án.

Trả lại Lê Đức H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen có ốp lưng bằng nhựa trong suốt, số IMEI 359151074260959 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia X3 màu đen, dạng máy trượt, số seri 351536046095988.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ- đen số khung RLHHC12358Y374530, số máy HC12E-2107813 của Nguyễn Văn Q;

3.Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 12, Điều 14, Điều 15, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn Q phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lê Đức H.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • -TAND, VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • -VKSND, Chi cục THADS huyện Lạng Giang;
  • -Công an huyện Lạng Giang;
  • -Trại tạm giam;
  • -Bị cáo;
  • -UBND nơi bị cáo cư trú;
  • -Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Quỳnh Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 116/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang về hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 116/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ninh Khánh K
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger