|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Bình An
Các Hội thẩm nhân dân
Bà Nguyễn Thị Rạt - Cán bộ hưu trí thị trấn Hậu Nghĩa - huyện Đức Hòa.
Bà Trương Thị Kim Tiến - Nguyên Trưởng phòng giáo dục huyện Đức Hòa.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huỳnh Như - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Võ Quang Mãi - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số:104/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số:115/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 44/2024/HSST - QĐ ngày 21 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Đào Minh T, sinh ngày 17/6/2005 tại tỉnh Long An; Nơi cư trú: ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đào Minh T1, sinh năm 1981 và bà Mai Thị Thanh T2, sinh năm 1985; Bị cáo không có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo Đào Minh T đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/5/2024 đến ngày 20/7/2024 tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Huỳnh Trọng N, sinh ngày 05/5/2005 tại tỉnh Long An; Nơi cư trú Ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Văn Đ, sinh năm 1961 và bà Phạm Thị B, sinh năm 1966; Bị cáo không có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo Huỳnh Trọng N đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/5/2024 đến ngày 20/7/2024 tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
Bị hại: Anh Nguyễn Tấn P, sinh năm 2003, (có mặt)
Địa chỉ; ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Hứa Phước L, sinh ngày 16/6/2008, (có mặt).
- Nguyễn Thái Gia H, sinh ngày 14/8/2008, (xin vắng mặt).
- Phạm Hồng T4, sinh năm 2005, (xin vắng mặt).
- Nguyễn Minh H1, sinh năm 2005, (xin vắng mặt).
- Châu Nhựt H2, sinh năm 1998, (vắng mặt).
- Lương Minh K1, sinh năm 2005, (xin vắng mặt).
- Đỗ Thành Đ1, sinh năm 2005, (xin vắng mặt).
- Huỳnh Anh H3, sinh năm 2003, (có mặt).
- Đào Tấn L3, sinh năm 2001, (vắng mặt).
- Nguyễn Đình B1, sinh năm 1998, (xin vắng mặt).
- Đào Vi T5, sinh ngày 20/6/2008, (vắng mặt).
- Trần Ngọc C, sinh năm 2005, (xin vắng mặt).
- Nguyễn Chí H4, sinh ngày 19/8/2007, (xin vắng mặt).
- Dương Bảo A, sinh năm 2006, (vắng mặt).
- Nguyễn Minh T7, sinh ngày 11/10/2008, (xin vắng mặt).
- Nguyễn Nhất T9, sinh năm 1998, (xin vắng mặt).
- Nguyễn Minh L5, sinh năm 2002, (vắng mặt).
- Huỳnh Thanh T10, sinh năm 2002, (xin vắng mặt).
- Bùi B3, sinh năm 2000, (xin vắng mặt).
- Hồ Phú Q, sinh năm 2006, (xin vắng mặt).
- Phan Nhật H6, sinh năm 2005, (xin vắng mặt).
- Trương Đăng K2, sinh năm 2004, (xin vắng mặt).
- Phạm Bá T11, sinh năm 2005, (vắng mặt).
- Lý Thành N2, sinh ngày 26/10/2006, (xin vắng mặt).
- Nguyễn Lê Quang L6, sinh năm 2005, (xin vắng mặt).
- Trương Chí B5, sinh năm 2003, (vắng mặt).
Người đại diện theo pháp luật của L: ông Hứa L1, sinh năm 1983 và bà Bùi Thị Thúy L2, sinh năm 1984, (cha mẹ ruột), (có mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật của H: ông Nguyễn Tấn K, bà Thái Thanh T3 (cha mẹ ruột) - (xin vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Khu phố C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Khu phố C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Khu phố D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Khu phố C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Khu phố D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Khu phố D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật của T5: ông Đào Minh B2, bà Dương Thị Mỹ L4 (cha mẹ), (vắng mặt).
Địa chỉ: Khu phố D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật của H4: ông Nguyễn Minh H5 và bà Lê Thị Kim T6 (cha mẹ ruột), (xin vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật của T7: ông Nguyễn Văn N1 và bà Nguyễn Kim T8 (cha mẹ ruột), (xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Ấp L, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Ấp G, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Ấp C, xã C, huyện C, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo pháp luật của N2: Bà Huỳnh Thị B4 (mẹ ruột) - (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã C, huyện C, tỉnh An Giang.
Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Ấp C, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Những người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng:
- Trang Minh T12, sinh năm 1981, (vắng mặt).
- Nguyễn Thị Trúc L7, sinh năm 1993, (vắng mặt).
- Đoàn Thị Mỹ L8, sinh năm 1994, (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Khu phố D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Khu phố D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 01 năm 2023, Nguyễn Thái Gia H xảy ra mâu thuẫn với Nguyễn Minh T7 và Nguyễn Chí H4, nên nhắn tin chửi nhau và thách thức đánh nhau.
Về phía nhóm người của Nguyễn Thái Gia H:
Khoảng 20 giờ ngày 06/01/2023, Nguyễn Thái Gia H đang uống bia cùng với Phạm Hồng T4, Nguyễn Minh H1, Châu Nhựt H2, Lương Minh K1, Đỗ Thành Đ1, Huỳnh Anh H3, Đào Tấn L3 và Nguyễn Đình B1 tại quán ăn B7 thuộc khu V, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Trong lúc uống bia cùng với nhau, H kể lại sự việc mâu thuẫn và hẹn đánh nhau với T7 và Chí H4 cho T4 nghe, nên T4 nhờ B1 và Minh H1 giúp H nói chuyện với T7 và Chí H4 để giải quyết mâu thuẫn. Lúc này, T4 gọi điện thoại cho T7 qua ứng dụng Messenger để hòa giải nhưng không được mà còn xảy ra mâu thuẫn và hẹn nhóm T7 đánh nhau, nên T4 rủ những người đang uống bia chung hỗ trợ T4 đi đánh nhau với nhóm của T7, tất cả đồng ý.
Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, T4, H, Minh H1, B1, H2, Đ1, Tấn L3, H3, K1 tập trung tại khu vực gần nhà nghĩ T13 thuộc khu V, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An để chuẩn bị đánh nhau. Lúc này, H2 điều khiển xe mô tô biển số 54U2-3501 chở K1 đến khu vực cầu L thuộc ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An để nắm tình hình, do không thấy T7 đến nên H2 và K1 quay về gần nhà nghĩ T13 nói cho cả nhóm biết. Sau đó, Đ2 Vi Tính điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave alpha, màu đỏ, không rõ biển số đi ngang qua thì gặp T4 và được T4 rủ đi đánh nhau, T5 đồng ý, đồng thời T5 đi về nhà rủ thêm Trần Ngọc C đi hỗ trợ đánh nhau, C đồng ý. Chí điều khiển xe mô tô của T5 chở T5 đến tập trung cùng cả nhóm của T4 tại địa điểm nêu trên. Trong khi đợi nhóm của T7 đến, Đ1 điều khiển xe mô tô biển số 62P2-133.56 và H3 điều khiển xe mô tô biển số 62P2-375.33 đi đến nhà của Hứa Phước L, sinh ngày 16/6/2008 lấy 01 cây dao tự chế dài khoảng 01m và 01 cây dao tự chế, loại dao phóng lớn dài khoảng 1,55m, đồng thời H3 rủ thêm Đào Minh T; Huỳnh Trọng N và Phước L cùng đi đánh nhau, T, N và L đồng ý. Sau đó, N điều khiển xe mô tô biển số 62P2-375.33 của H3 chở L ngồi giữa và T ngồi sau, Đ1 điều khiển xe mô tô biển số 62P2-133.56 chở H3, H3 cầm 02 cây dao tự chế nêu trên trở lại khu vực tập trung gặp T4 và những người khác. Chuẩn bị hung khí xong, T4 gọi điện thoại cho T7 hẹn địa điểm tại cầu L để giải quyết mâu thuẫn, do mục đích chỉ đi nói chuyện giảng hòa nên B1 kêu T cất giấu 02 cây dao tự chế nêu trên ở bụi cỏ gần đó. Sau đó, Đ1 điều khiển xe mô tô biển số 62P2-133.56 chở H3, B1 điều khiển xe mô tô biển số 72L2-2133 chở Tấn L3 ngồi giữa và Minh H1 ngồi sau, C điều khiển xe mô tô không rõ biển số chở T5, H điều khiển xe mô tô biển số 62P1-489.95 chở T4, H2 điều khiển xe mô tô biển số 54U2-3501 chở K1, N điều khiển xe mô tô biển số 62P2-375.33 chở P, tất cả đi đến cầu L để gặp nhóm của T7.
Về phía nhóm người của Nguyễn Minh T7:
Khoảng 20 giờ ngày 06/01/2023, Nguyễn Chí H4 và Dương Bảo A hẹn Triết đến đường T thuộc ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An để đi đánh nhau với nhóm của H. Sau đó, A gọi điện thoại rủ Nguyễn Nhất T9 đi hỗ trợ đánh nhau, T9 đồng ý. Lúc này, T9 đang uống bia cùng với Nguyễn Minh L5, Huỳnh Thanh T10, Bùi Bra X nên T9 rủ cả nhóm đi cùng, tất cả đồng ý. Sau đó, T9 điều khiển xe mô tô biển số 62P1-370.68 chở Bra X, T10 điều khiển xe mô tô biển số 62K2-5737 chở L5 cùng đi đến điểm hẹn. Còn T7 gọi điện thoại rủ Hồ Phú Q rủ đi hỗ trợ đánh nhau, Q đồng ý. Triết điều khiển xe mô tô biển số 62P1-587.01 đến nhà của Q để rước Q. Tại đây, T7 gặp và rủ thêm Phan Nhật H6, Trương Đăng K2 và Phạm Bá T11 đi hỗ trợ Triết đánh nhau, tất cả đồng ý. Sau đó, T7 điều khiển xe mô tô biển số 62P1-587.01 chở N, Q điều khiển xe mô tô biển số 62P1-709.53 chở K2 ngồi giữa và T11 ngồi sau cùng đi đến nhà trọ của Lý Thành N2, T7 rủ N2 đi cùng để đánh nhau, N2 đồng ý và lên xe mô tô ngồi phía sau Chí H4 cho T7 chở. Sau đó, tất cả đi đến điểm hẹn, trên đường đi cả nhóm nhặt 03 khúc cây tầm vong bên lền đường đưa cho N2, Nhật H6 và K2 mỗi người cầm 01 khúc cây, tiếp tục đi đến điểm hẹn. Đến 21 giờ 10 phút cùng ngày, Chí H4 và A đang ở nhà của Nguyễn Tấn P1 thì gặp Nguyễn Lê Quang L6 và Nguyễn Tấn P, nên A rủ L6 và P đi hỗ trợ A đánh nhau, L6 và P đồng ý. Đồng thời, P điện thoại rủ thêm Trương Chí B5 cùng đi đánh nhau, B5 đồng ý. Sau đó, Chí H4 điều khiển xe mô tô biển số 51Y1-1927 chở L6, A điều khiển xe mô tô biển số 62P1-841-06 chở P đi đến điểm hẹn, khi đi P lấy từ trong nhà, cầm theo 01 cây rựa dài 64,5cm và 01 cây rựa dài 60cm.
Khi đến điểm hẹn tại đầu đường T, A, P, L5, T10 đi đến chồi của người tên Thành G tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An để lấy hung khí của L5 để ở đây từ trước gồm: 04 ống tuýp sắt và 03 dao phóng lợn rồi quay lại điểm tập kết. Sau đó, A điều khiển xe mô tô đi rước P1, nên P đưa 01 cây rựa dài 64,5cm và 01 cây rựa dài 60cm cho L5 cầm, Bra Xin cầm 01 ống tuýp bằng kim loại hình tròn, dài 1,73m và 01 ống tuýp bằng kim loại hình tròn dài 1,83m. Sau đó, B5 điều khiển xe mô tô loại Winner X, màu đỏ, không rõ biển số chở P, P cầm 01 dao phóng lợn và 01 ống tuýp bằng kim loại; Chí Hào điều khiển xe mô tô biển số 51Y1-1927 chở L6, T10 điều khiển xe mô tô biển số 62K2-5737 chở L5, L5 cầm 02 cây rựa nêu trên; T9 điều khiển xe mô tô biển số 62P1-370.68 chở Bra X, B Xin cầm 02 ống tuýp kim loại nêu trên; Triết điều khiển xe mô tô biển số 62P1-587.01 chở Nhật H6 ngồi giữa và N2 ngồi sau; Q điều khiển xe mô tô biển số biển số 62P1-709.53 chở K2 ngồi giữa và T11 ngồi sau, tất cả đi đến đoạn đường đá xanh cách cầu L khoảng 20m. Tại đây, Nhật H6, N2 và K2 vứt bỏ 03 khúc cây tầm vong đã nhặt trước đó, rồi P đưa cho N2 01 dao phóng lợn dài 02m, đưa cho L6 01 dao phóng lợn dài 02m, P cầm trên tay 01 dao phóng lợn dài 1,8m, Nhật H6 lấy và cầm trên tay 01 ống tuýp bằng kim loại hình tròn dài 2,015m, K2 lấy và cầm trên tay 01 ống tuýp bằng kim loại hình tròn dài 1,8m, L5 đưa lại cho Chí Hào 01 cây rựa dài 64,5cm, chia hung khí xong cả nhóm đứng đợi tại đây. Đến khoảng 21 giờ 45 phút cùng ngày, T7 gọi điện thoại cho H, nhưng H không bắt máy nên nhóm người của T7 chạy qua cầu L hướng về thị trấn Đ khoảng 20m thì rẽ vào đường bê tông bên tay trái tiếp tục đợi.
Khi nhóm người của H đi đến gần cầu L thì bị T7 điều khiển xe mô tô chở Nhật H6 ngồi giữa cầm ống tuýp bằng kim loại và N2 ngồi sau cầm dao phóng lợn đuổi đánh nên nhóm người của H bỏ chạy. Nhật Hào dùng ống tuýp đánh 03 cái trúng vào Lưng của Đ1, N2 dùng dao phóng lợn đánh 03 cái trúng vào lưng của H3, bị đánh nên Đ1 điều khiển xe chở H3 té ngã xuống đường và bỏ lại xe mô tô chạy bộ bỏ trốn. Lúc này, Chí H4 điều khiển xe mô tô chở L6 chạy đến, Chí H4 dùng rựa chém 03 cái trúng vào xe mô tô của Đ1 rồi điều khiển xe chạy về cầu L, nhóm người của H chia ra chạy về hướng thị trấn Đ bỏ trốn. Riêng T kêu N và Phước L quay lại nơi cất giấu hung khí lấy 02 dao tự chế quay lại đánh nhóm của T7, N, Phước L đồng ý.
Sau đó, N điều khiển xe mô tô biển số 62P2-375.33 chở Phước L ngồi giữa và T ngồi sau quay lại nơi tập kết ban đầu để lấy hung khí. Sau khi lấy hung khí xong, N chở Phước L ngồi giữa cầm 01 dao tự chế dài khoảng 01m, T ngồi sau cầm 01 dao phóng lợn dài khoảng 1,55m quay trở lại khu vực cầu L tìm nhóm của T7 đánh trả thù. Khi N điều khiển xe mô tô vừa qua cầu L thì bị nhóm người của T7 ở dưới chân cầu chặn đánh, T dùng dao phóng lợn chém về hướng nhóm người này nhưng không trúng ai và làm rơi dao phóng lợn xuống đường. N tiếp tục điều khiển xe mô tô đi về hướng xã H, khi đi đến đối diện nhà nghỉ B8 thuộc ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An, N, T và Phước L nhìn thấy B5 đang điều khiển xe mô tô không rõ biển số chở P đang lưu thông phía trước cùng chiều, nên N điều khiển xe mô tô vượt lên áp sát bên trái xe mô tô do B5 điều khiển, Phước L cầm dao tự chế bằng hai tay chém 01 cái theo hướng từ trên xuống dưới, từ sau ra trước trúng vào vùng cổ của P gây thương tích, P ngã từ trên xe xuống đường dẫn đến bị thương tích ở bàn tay phải và chân phải. Sau khi gây thương tích cho P xong, N điều khiển xe mô tô chở Phước L và T đến khu vực kênh dẫn nước bằng bê tông thuộc ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, T giật lấy dao tự chế của L đang cầm trên tay vứt bỏ xuống kênh, rồi cả ba đi về nhà. Riêng P được người dân phát hiện đưa đến Bệnh viện X1 điều trị thương tích. Ngày 02/02/2023, Nguyễn Tấn P tố giác vụ việc yêu cầu xử lý bằng pháp luật hình sự.
Vật chứng tạm giữ: 01 xe mô tô biển số 62P2-375.33; 01 dao phóng lợn bằng kim loại dài 1,55m, lưỡi dao bằng kim loại màu nâu dài 26cm, nơi rộng nhất 05cm, nơi hẹp nhất 0,2cm, mũi nhọn; 01 ống tuýp bằng kim loại hình tròn, một đầu dẹp dài 02m, đường kính 02cm, mũi nhọn; 01 ống tuýp bằng kim loại hình tròn dài 1,765m, đường kính 2,5cm, một đầu có hàn 01 thanh kim loại dài 08cm và 01 thanh kim loại hình chữ L, phần chữ L hàn với thanh kim loại hình tròn dài 09cm, phần còn lại dài 04cm; 01 ống tuýp bằng kim loại hình tròn dài 2,015m, đường kính 02cm; 01 ống tuýp bằng kim loại hình tròn dài 1,73m, đường kính 02cm; 01 ống tuýp bằng kim loại hình tròn dài 1,83m, đường kính 02cm; 01 cây rựa dài 64,5cm, cán bằng gỗ dài 33,5cm, đường kính 04cm, lưỡi bằng kim loại dài 31cm, nơi rộng nhất 6,5cm.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 90/KLTTCT-TTPY của Trung tâm Pháp y tỉnh L, kết luận:
“1. Các kết quả chính:
- 01 sẹo vết thương vùng cổ trái, kích thước lớn.
- Vết thay đổi sắc tố da màu vàng nâu vùng mu bàn tay phải.
- Vết thay đổi sắc tố da vùng cẳng chân phải.
2. Kết luận:
Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Tấn P tại thời điểm giám định là 07% (Không bảy phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Kết luận khác: Không có cơ sở để xác định cơ chế hình thành vết thương."
Tại Công văn số 166/TTPY-GĐTH ngày 26/6/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh L, giải trình pháp y thương tích của Nguyễn Tấn P như sau:
- “01 sẹo vết thương vùng cổ trái, kích thước lớn, có tỷ lệ 06%.
- Vết thay đổi sắc tố da màu vàng nâu vùng mu bàn tay phải, có tỷ lệ 0,5%.
- Vết thay đổi sắc tố da vùng cẳng chân phải, có tỷ lệ 01%.”
Tại Công văn số 352/TTPY-GĐTH này 27/11/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh L, giải trình thương tích của Nguyễn Tấn P như sau: “Với tình trạng thương tích của nạn nhân Nguyễn Tấn P nếu không cấp cứu kịp thời thì không dẫn đến tử vong”.
Tại bản Kết luận giám định độ tuổi trên người sống số 105/KLGĐĐT-C09B ngày 20/12/2023 của Phân Viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: “Qua quá trình khám lâm sàng và kết quả cận lâm sàng, xác định tại thời điểm giám định (tháng 12 năm 2023) Đào Minh T có thể chất đã phát triển hoàn thiện, các đầu xương của tay, chân và xương chậu đã cốt hóa hoàn toàn, có độ tuổi thấp nhất từ 18 năm 04 tháng. Không đủ cơ sở xác định độ tuổi cao nhất."
Tại bản cáo trạng số: 104/CT- VKSĐH ngày 16 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố các bị cáo:
Đào Minh T và Huỳnh Trọng N về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
Các bị cáo Đào Minh T và Huỳnh Trọng N hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng của VKSND huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố, không đưa ra chứng cứ nào để minh oan, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại anh Nguyễn Tấn P trình bày: Ngày 06/01/2023, anh bị các bị cáo gây thương tích cho anh với tỷ lệ thương tật 7%, do đó anh yêu cầu xử lý trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo theo quy định pháp luật hình sự. Về trách nhiệm dân sự, anh yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại cho anh chi phí điều trị là 70.000.000 đồng; và đồng ý với việc bồi thường thu nhập thực tế bị mất là 300.000 đồng/ngày x 05 tháng = 45.000.000 đồng; tổn thất tinh thần là 05 tháng lương cơ sở, x 2.340.000đồng = 11.700.000 đồng; tổng cộng số tiền bồi thường thiệt hại cho anh là: 126.700.000 đồng. Ngoài ra anh không yêu cầu gì khác.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Hứa Phước L do ông Hứa L1 và bà Bùi Thị Thúy L2 (cha mẹ ruột) là người đại diện theo pháp luật trình bày: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay Hứa Phước L trình bày là đúng. Nay qua các yêu cầu bồi thường của bị hại, ông bà có ý kiến như sau:
- Đối với tiền chi phí điều trị: ông bà đồng ý cùng với các bị cáo bồi thường số tiền 70.000.000 đồng.
- Đối với thu nhập thực tế bị mất ông bà đồng ý cùng với các bị cáo bồi thường mức thiệt hại là 300.000 đồng/ngày x 05 tháng = 45.000.000 đồng.
- Đối với tổn thất tinh thần ông bà đồng ý cùng với các bị cáo bồi thường 5 tháng lương cơ sở, số tiền là 11.700.000 đồng.
Tổng số tiền ông bà đồng ý cùng với các bị cáo bồi thường là 126.700.000 đồng, theo đó ông bà có trách nhiệm bồi thường cho bị hại số tiền 42.234.000 đồng, đề nghị khấu trừ số tiền đã tự nguyện nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa là 8.000.000 đồng.
Các bị cáo Đào Minh T và Huỳnh Trọng N thống nhất với ý kiến của ông Hứa L1 và bà Bùi Thị Thúy L2 về bồi thường thiệt hại cho bị hại như trên, số tiền mỗi bị cáo Đào Minh T và Huỳnh Trọng N đồng ý bồi thường cho bị hại là 42.233.000 đồng, khấu trừ số tiền mỗi bị cáo đã tự nguyện nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa là 8.000.000 đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh A1 H3 trình bày: anh là chủ xe mô tô biển số 62P2 -375.33. Vào ngày 06 tháng 01 năm 2023 anh có đưa xe mô tô nêu trên cho Huỳnh Trọng N sử dụng, việc N sử dụng xe này đi đâu làm gì anh hoàn toàn không biết. Nay anh yêu cầu được nhận lại xem mô tô biển số 62P2-375.33. Ngoài ra anh không có yêu cầu gì khác.
Kiểm sát viên sau khi phân tích, đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm xã hội của hành vi vi phạm pháp luật mà các bị cáo gây ra; Đồng thời căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Đào Minh T và Huỳnh Trọng N phạm tội “Cố ý gây thương tích”; Đề nghị:
- Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 36, Điều 90; Điều 91; Điều 100 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đào Minh T mức án từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu tính thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Đào Minh T cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Long An giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Đào Minh T có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Long An trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Đào Minh T.
- Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 36, Điều 90; Điều 91; Điều 100 Bộ luật Hình sự, xử phạt Huỳnh Trọng N mức án từ 01 năm đến 01 tháng 03 tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu tính thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Huỳnh Trọng N cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Long An giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Huỳnh Trọng N có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Long An trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Huỳnh Trọng N.
Trường hợp người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật Thi hành án hình sự.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 dao phóng lợn bằng kim loại dài 1,55m, lưỡi dao bằng kim loại màu nâu dài 26cm, nơi rộng nhất 05cm, nơi hẹp nhất 0,2cm, mũi nhọn; 01 ống tuýp bằng kim loại hình tròn, một đầu dẹp dài 02m, đường kính 02cm, mũi nhọn; 01 ống tuýp bằng kim loại hình tròn dài 1,765m, đường kính 2,5cm, một đầu có hàn 01 thanh kim loại dài 08cm và 01 thanh kim loại hình chữ L, phần chữ L hàn với thanh kim loại hình tròn dài 09cm, phần còn lại dài 04cm; 01 ống tuýp bằng kim loại hình tròn dài 2,015m, đường kính 02cm; 01 ống tuýp bằng kim loại hình tròn dài 1,73m, đường kính 02cm; 01 ống tuýp bằng kim loại hình tròn dài 1,83m, đường kính 02cm; 01 cây rựa dài 64,5cm, cán bằng gỗ dài 33,5cm, đường kính 04cm, lưỡi bằng kim loại dài 31cm, nơi rộng nhất 6,5cm.
Đối với xe mô tô biển số 62P2-375.33, là tài sản của Huỳnh Anh H3, H3 đưa xe mô tô này cho N điều khiển chở Phước L và T. Nhưng khi bị đuổi đánh, H3 đã bỏ chạy về nhà, không biết N điều khiển xe mô tô này đi đâu, làm gì, nên đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho anh H3 là phù hợp.
Đối với 01 ống tuýp bằng kim loại Trương Đăng K2 dùng khi đánh nhau, sau khi xảy ra vụ việc K2 đã vứt bỏ ống tuýp này trên đường đi, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 cây rựa Nguyễn Minh L5 dùng khi đánh nhau, sau khi xảy ra vụ việc L5 đã vứt bỏ cây rựa này tại đường kênh nổi gần đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 dao phóng lợn Nguyễn Tấn P dùng khi đánh nhau, sau khi P bị L gây thương tích té ngã xuống đường đã làm rơi dao phóng lợn này bên lề đường, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với cây dao tự chế dài khoảng 01m, L dùng gây thương tích cho P, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị HĐXX ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa ông Hứa L1, bà Bùi Thị Thúy L2 (cha mẹ ruột của Hứa Phước L), bị cáo Đào Minh T, Huỳnh Trọng N với bị hại Nguyễn Tấn P tại phiên tòa; theo đó, ông Hứa L1, bà Bùi Thị Thúy L2 (cha mẹ ruột của Hứa Phước L) có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho Nguyễn Tấn P số tiền 42.234.000 đồng, mỗi bị cáo Đào Minh T, Huỳnh Trọng N bồi thường thiệt hại cho Nguyễn Tấn P số tiền 42.233.000 đồng (khấu trừ số tiền đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa).
Đối với việc Nguyễn Minh T7, Phan Nhật H6 và Lý Thành N2 có hành vi dùng ống tuýp và dao tự chế (loại dao phóng lợn) gây thương tích cho Đỗ Thành Đ1 và Huỳnh Anh H3, nhưng Đ1 và H3 chỉ bị thương tích nhẹ, không ảnh hưởng đến sức khỏe, có đơn từ chối giám định thương tích và không yêu cầu xử lý hình sự, nên không đề cập giải quyết.
Đối với việc Nguyễn Chí H4 và Nguyễn Lê Quang L6 có hành vi dùng rựa chém vào xe mô tô biển số 62P2-133.56 của Đỗ Thành Đ1, nhưng xe mô tô này không bị hư hỏng gì, đồng thời Đ1 có đơn không yêu cầu định giá và xử lý về hành vi này, nên không đề cập giải quyết.
Đối với Nguyễn Thái Gia H, Phạm Hồng T4, Nguyễn Minh H1, Châu Nhựt H2, Lương Minh K1, Đỗ Thành Đ1, Huỳnh Anh H3, Đào Tấn L3, Nguyễn Đình B1, Đào Vi T5 và Trần Ngọc C có hành vi cùng với Đào Minh T, Huỳnh Trọng N và Hứa Phước L đi đánh nhau, nhưng khi bị Nguyễn Minh T7, Phan Nhật H6 và Lý Thành N2 đuổi đánh thì nhóm người này đã chia ra bỏ chạy, chấm dứt hoàn toàn hành vi đánh nhau, việc T, N và Phước L tự ý quay lại gây thương tích cho P là hành vi vượt quá giới hạn của người thực hành nên hành vi của những người này không đồng phạm với các bị cáo Đào Minh T và Huỳnh Trọng N.
Đối với Nguyễn Thái Gia H, Phạm Hồng T4, Nguyễn Minh H1, Châu Nhựt H2, Lương Minh K1, Đỗ Thành Đ1, Huỳnh Anh H3, Đào Tấn L3, Nguyễn Đình B1, Đào Vi T5, Trần Ngọc C, Nguyễn Chí H4, Dương Bảo A, Nguyễn Minh T7, Nguyễn Nhất T9, Nguyễn Minh L5, Huỳnh Thanh T10, Bùi Bra X, Hồ Phú Q, Phan Nhật H6, Trương Đăng K2, Phạm Bá T11, Lý Thành N2, Nguyễn Lê Quang L6, Nguyễn Tấn P và Trương Chí B5 có hành vi tụ tập đánh nhau. Tuy nhiên thời gian diễn ra vào khoảng 21 giờ đến 22 giờ, là thời gian vắng người qua lại, không có người dân nhìn thấy hành vi đánh nhau của những người này. Đồng thời, hành vi tụ tập đánh nhau diễn ra rất nhanh, không gây cản trở, ách tắc giao thông, không có hành vi phá phách gây thiệt hại về tài sản, sức khỏe và tính mạng của người khác và không có các tình tiết khác để định tội nên hành vi này không đủ yếu tố cấu thành các tội phạm có liên quan. Cơ quan Cảnh sát điều tra ban hành Công văn số 493 ngày 21/6/2024, chuyển hành vi của những người này đến Công an huyện Đ, tỉnh Long An để đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
Đối với Hứa Phước L có hành vi cùng với các bị cáo Đào Minh T và Huỳnh Trọng N gây thương tích cho bị hại Nguyễn Tấn P, nhưng thời điểm thực hiện hành vi L chỉ mới 14 tuổi 06 tháng, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với L là phù hợp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng, nhưng những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Đào Minh T và Huỳnh Trọng N khai nhận: Khoảng 22 giờ ngày 06 tháng 01 năm 2023 tại ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An, Huỳnh Trọng N điều khiển xe mô tô biển số 62P2-375.33 chở Đào Minh T ngồi sau và Hứa Phước L (có độ tuổi 14 tuổi 06 tháng) ngồi giữa áp sát xe mô tô không rõ biển số do Trương Chí B5 điều khiển chở Nguyễn Tấn P lưu thông cùng chiều, phía trước. Lúc này, Hứa Phước L có hành vi cầm 01 cây dao tự chế dài khoảng 01m bằng hai tay, chém 01 cái theo hướng từ trên xuống dưới, từ sau ra trước trúng vào vùng cổ của P gây thương tích. Sau khi bị chém, P ngã xuống đường dẫn đến bị thương tích ở mu bàn tay phải và cẳng chân phải, với tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Tấn P tại thời điểm giám định là 07%. Ngày 02/02/2023, Nguyễn Tấn P tố giác vụ việc yêu cầu xử lý bằng pháp luật hình sự. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo Đào Minh T có độ tuổi 17 tuổi 05 tháng, bị cáo Huỳnh Trọng N có độ tuổi 17 tuổi 07 tháng.
Lời khai nhận của các bị cáo trước Tòa, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và những người làm chứng có mặt tại hiện trường, phù hợp với bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 90/KLTTCT-TTPY của Trung tâm Pháp y tỉnh L, Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể, Công văn số 166/TTPY-GĐTH ngày 26/6/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh L, giải trình pháp y thương tích của Nguyễn Tấn P, Công văn số 352/TTPY-GĐTH này 27/11/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh L, giải trình thương tích của Nguyễn Tấn P như sau: “Với tình trạng thương tích của nạn nhân Nguyễn Tấn P nêu không cấp cứu kịp thời thì không dẫn đến tử vong”, B6 Kết luận giám định độ tuổi trên người sống số 105/KLGĐĐT- C09B ngày 20/12/2023 của Phân Viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: “Qua quá trình khám lâm sàng và kết quả cận lâm sàng, xác định tại thời điểm giám định (tháng 12 năm 2023) Đào Minh T có thể chất đã phát triển hoàn thiện, các đầu xương của tay, chân và xương chậu đã cốt hóa hoàn toàn, có độ tuổi thấp nhất từ 18 năm 04 tháng. Không đủ cơ sở xác định độ tuổi cao nhất.” biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra, bản ảnh hiện trường và tang vật chứng thu giữ đã được thẩm tra xác minh công khai tại phiên Tòa, phù hợp với nội dung bản cáo trạng. Từ đó Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Các bị cáo Đào Minh T và Huỳnh Trọng N phạm tội Cố ý gây thương tích theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát huyện Đ, tỉnh Long An truy tố các bị cáo với tội danh và Điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Hành vi vi phạm pháp luật của các bị cáo Đào Minh T và Huỳnh Trọng N gây ra là nguy hiểm. Hành vi này không những đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của bị hại mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương. Khi thực hiện hành vi, các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của các bị cáo là sẽ gây nguy hiểm cho tính mạng, sức khỏe của bị hại và thấy trước hậu quả của hành vi đó nhưng các bị cáo vẫn bất chấp thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi trái pháp luật của các bị cáo Đào Minh T và Huỳnh Trọng N cần xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự. Do đó cần áp dụng mức hình phạt tương xứng mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[3.1] Trong vụ án này, các bị cáo Huỳnh Trọng N và Đào Minh T thực hiện hành vi phạm tội không có sự câu kết chặt chẽ với nhau, trong đó T với vai trò là người rủ rê người dưới 18 tuổi và trực tiếp thực hiện tội phạm với N.
[3.2] Xét về nhân thân: bị cáo Đào Minh T có tình tiết tăng nặng theo điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo T, không có tiền án tiền sự, khi phạm tội bị cáo dưới 18 tuổi, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận đồng thời bị cáo tự nguyện bồi thường cho bị hại một phần trách nhiệm dân sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 90, Điều 91, Điều 100 của Bộ luật Hình sự, nên khi áp dụng hình phạt có xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần.
[3.2] Xét về nhân thân: Bị cáo Huỳnh Trọng N không có tình tiết tăng nặng theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo không có tiền án, tiền sự, khi phạm tội bị cáo dưới 18 tuổi, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận đồng thời bị cáo tự nguyện bồi thường cho bị hại một phần trách nhiệm dân sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 50, Điều 90, Điều 91, Điều 100 của Bộ luật Hình sự, do đó khi áp dụng hình phạt có xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần.
[3.3] Xét thấy các bị cáo T và N có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng; đã nhận thức được hành vi phạm tội nên xem xét áp dụng hình phạt “Cải tạo không giam giữ” theo Điều 36, 100 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo, không cần cách ly khỏi xã hội, vẫn đảm bảo tính răn đe, cải tạo, giáo dục các bị cáo.
Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng hình phạt và mức hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[3.4]. Xét thấy các bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, có hoàn cảnh khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận, thu nhập không ổn định nên HĐXX xét miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo.
[4]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với 01 dao phóng lợn bằng kim loại dài 1,55m, lưỡi dao bằng kim loại màu nâu dài 26cm, nơi rộng nhất 05cm, nơi hẹp nhất 0,2cm, mũi nhọn; 01 ống tuýp bằng kim loại hình tròn, một đầu dẹp dài 02m, đường kính 02cm, mũi nhọn; 01 ống tuýp bằng kim loại hình tròn dài 1,765m, đường kính 2,5cm, một đầu có hàn 01 thanh kim loại dài 08cm và 01 thanh kim loại hình chữ L, phần chữ L hàn với thanh kim loại hình tròn dài 09cm, phần còn lại dài 04cm; 01 ống tuýp bằng kim loại hình tròn dài 2,015m, đường kính 02cm; 01 ống tuýp bằng kim loại hình tròn dài 1,73m, đường kính 02cm; 01 ống tuýp bằng kim loại hình tròn dài 1,83m, đường kính 02cm; 01 cây rựa dài 64,5cm, cán bằng gỗ dài 33,5cm, đường kính 04cm, lưỡi bằng kim loại dài 31cm, nơi rộng nhất 6,5cm. Các bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án dùng để thực hiện hành vi phạm tội, nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Đối với xe mô tô biển số 62P2-375.33, là tài sản của Huỳnh Anh H3, H3 đưa xe mô tô này cho N điều khiển chở Phước L và T. Nhưng khi bị đuổi đánh, H3 đã bỏ chạy về nhà, không biết N điều khiển xe mô tô này đi đâu, làm gì, nên Hội đồng xét xử trả lại cho anh H3 là phù hợp.
Đối với 01 ống tuýp bằng kim loại Trương Đăng K2 dùng khi đánh nhau, sau khi xảy ra vụ việc K2 đã vứt bỏ ống tuýp này trên đường đi, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 cây rựa Nguyễn Minh L5 dùng khi đánh nhau, sau khi xảy ra vụ việc L5 đã vứt bỏ cây rựa này tại đường kênh nổi gần đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 dao phóng lợn Nguyễn Tấn P dùng khi đánh nhau, sau khi P bị L gây thương tích té ngã xuống đường đã làm rơi dao phóng lợn này bên lề đường, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với cây dao tự chế dài khoảng 01m, L dùng gây thương tích cho P, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, 585, 586, 587, 590 Bộ luật Dân sự: HĐXX ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa ông Hứa L1, bà Bùi Thị Thúy L2 (cha mẹ ruột của Hứa Phước L), bị cáo Đào Minh T, Huỳnh Trọng N với bị hại Nguyễn Tấn P tại phiên tòa; cụ thể:
Ông Hứa L1, bà Bùi Thị Thúy L2 (cha mẹ ruột của Hứa Phước L) có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho Nguyễn Tấn P số tiền 42.234.000 đồng, khấu trừ số tiền 8.000.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa; ông Hứa L1, bà Bùi Thị Thúy L2 có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho Nguyễn Tấn P số tiền 34.234.000 đồng.
- Bị cáo Đào Minh T có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho Nguyễn Tấn P số tiền 42.233.000 đồng, khấu trừ số tiền 8.000.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa; bị cáo Đào Minh T có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho Nguyễn Tấn P số tiền 34.233.000 đồng.
- Bị cáo Huỳnh Trọng N có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho Nguyễn Tấn P số tiền 42.233.000 đồng, khấu trừ số tiền 8.000.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa; bị cáo Huỳnh Trọng N có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho Nguyễn Tấn P số tiền 34.233.000 đồng.
[6]. Đối với việc Nguyễn Minh T7, Phan Nhật H6 và Lý Thành N2 có hành vi dùng ống tuýp và dao tự chế (loại dao phóng lợn) gây thương tích cho Đỗ Thành Đ1 và Huỳnh Anh H3, nhưng Đ1 và H3 chỉ bị thương tích nhẹ, không ảnh hưởng đến sức khỏe, có đơn từ chối giám định thương tích và không yêu cầu xử lý hình sự, nên không đề cập giải quyết.
Đối với việc Nguyễn Chí H4 và Nguyễn Lê Quang L6 có hành vi dùng rựa chém vào xe mô tô biển số 62P2-133.56 của Đỗ Thành Đ1, nhưng xe mô tô này không bị hư hỏng gì, đồng thời Đ1 có đơn không yêu cầu định giá và xử lý về hành vi này, nên không đề cập giải quyết.
Đối với Nguyễn Thái Gia H, Phạm Hồng T4, Nguyễn Minh H1, Châu Nhựt H2, Lương Minh K1, Đỗ Thành Đ1, Huỳnh Anh H3, Đào Tấn L3, Nguyễn Đình B1, Đào Vi T5 và Trần Ngọc C có hành vi cùng với Đào Minh T, Huỳnh Trọng N và Hứa Phước L đi đánh nhau, nhưng khi bị Nguyễn Minh T7, Phan Nhật H6 và Lý Thành N2 đuổi đánh thì nhóm người này đã chia ra bỏ chạy, chấm dứt hoàn toàn hành vi đánh nhau, việc T, N và Phước L tự ý quay lại gây thương tích cho P là hành vi vượt quá giới hạn của người thực hành nên hành vi của những người này không đồng phạm với các bị cáo Đào Minh T và Huỳnh Trọng N.
Đối với Nguyễn Thái Gia H, Phạm Hồng T4, Nguyễn Minh H1, Châu Nhựt H2, Lương Minh K1, Đỗ Thành Đ1, Huỳnh Anh H3, Đào Tấn L3, Nguyễn Đình B1, Đào Vi T5, Trần Ngọc C, Nguyễn Chí H4, Dương Bảo A, Nguyễn Minh T7, Nguyễn Nhất T9, Nguyễn Minh L5, Huỳnh Thanh T10, Bùi Bra X, Hồ Phú Q, Phan Nhật H6, Trương Đăng K2, Phạm Bá T11, Lý Thành N2, Nguyễn Lê Quang L6, Nguyễn Tấn P và Trương Chí B5 có hành vi tụ tập đánh nhau. Tuy nhiên thời gian diễn ra vào khoảng 21 giờ đến 22 giờ, là thời gian vắng người qua lại, không có người dân nhìn thấy hành vi đánh nhau của những người này. Đồng thời, hành vi tụ tập đánh nhau diễn ra rất nhanh, không gây cản trở, ách tắc giao thông, không có hành vi phá phách gây thiệt hại về tài sản, sức khỏe và tính mạng của người khác và không có các tình tiết khác để định tội nên hành vi này không đủ yếu tố cấu thành các tội phạm có liên quan. Cơ quan Cảnh sát điều tra ban hành Công văn số 493 ngày 21/6/2024, chuyển hành vi của những người này đến Công an huyện Đ, tỉnh Long An để đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
Đối với Hứa Phước L có hành vi cùng với các bị cáo Đào Minh T và Huỳnh Trọng N gây thương tích cho bị hại Nguyễn Tấn P, nhưng thời điểm thực hiện hành vi L chỉ mới 14 tuổi 06 tháng, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với L là phù hợp.
[7]. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm (HSST) và án phí dân sự sơ thẩm, ông Hứa L1 và bà Bùi Thị Thúy L2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố các bị cáo Đào Minh T và Huỳnh Trọng N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 36; Điều 90; Điều 91; Điều 100 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Đào Minh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu tính thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Đào Minh T cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Long An giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Đào Minh T có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Long An trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Đào Minh T.
Trường hợp người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật Thi hành án hình sự.
- Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 36; Điều 90; Điều 91; Điều 100 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Huỳnh Trọng N 01 (một) năm 03 (ba) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu tính thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Huỳnh Trọng N cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Long An giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Huỳnh Trọng N có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Long An trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Huỳnh Trọng N.
Trường hợp người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật Thi hành án hình sự.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, 585, 586, 587, 590 Bộ luật Dân sự:
Buộc bị cáo Đào Minh T có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho Nguyễn Tấn P số tiền 42.233.000 đồng, được khấu trừ số tiền 8.000.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0003142 ngày 27/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa; bị cáo Đào Minh T có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại tiếp cho Nguyễn Tấn P số tiền 34.233.000 đồng.
Buộc bị cáo Huỳnh Trọng N có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho Nguyễn Tấn P số tiền 42.233.000 đồng, được khấu trừ số tiền 8.000.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0003141 ngày 27/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa; bị cáo Huỳnh Trọng N có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại tiếp cho Nguyễn Tấn P số tiền 34.233.000 đồng.
Buộc ông Hứa L1, bà Bùi Thị Thúy L2 (cha mẹ ruột của Hứa Phước L) liên đới có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho Nguyễn Tấn P số tiền 42.234.000 đồng, được khấu trừ số tiền 8.000.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0003143 ngày 27/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa; ông Hứa L1, bà Bùi Thị Thúy L2 có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại tiếp cho Nguyễn Tấn P số tiền 34.234.000 đồng.
Áp dụng Điều 357 Bộ luật Dân sự đối với số tiền chậm thi hành án.
- Về xử lý tang vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy các vật chứng: gồm 01 dao phóng lợn bằng kim loại dài 1,55m, lưỡi dao bằng kim loại màu nâu dài 26cm, nơi rộng nhất 05cm, nơi hẹp nhất 0,2cm, mũi nhọn; 01 ống tuýp bằng kim loại hình tròn, một đầu dẹp dài 02m, đường kính 02cm, mũi nhọn; 01 ống tuýp bằng kim loại hình tròn dài 1,765m, đường kính 2,5cm, một đầu có hàn 01 thanh kim loại dài 08cm và 01 thanh kim loại hình chữ L, phần chữ L hàn với thanh kim loại hình tròn dài 09cm, phần còn lại dài 04cm; 01 ống tuýp bằng kim loại hình tròn dài 2,015m, đường kính 02cm; 01 ống tuýp bằng kim loại hình tròn dài 1,73m, đường kính 02cm; 01 ống tuýp bằng kim loại hình tròn dài 1,83m, đường kính 02cm; 01 cây rựa dài 64,5cm, cán bằng gỗ dài 33,5cm, đường kính 04cm, lưỡi bằng kim loại dài 31cm, nơi rộng nhất 6,5cm.
Hoàn trả cho anh Huỳnh A1 H3 01 xe mô tô biển số 62P2-375.33.
Tang vật trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đang quản lý theo biên bản giao nhận số 112 ngày 16/7/2024.
- Về án phí: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 21, Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án: Buộc các bị cáo Đào Minh T và Huỳnh Trọng N, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST và 1.711.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.
Buộc ông Hứa L1 và bà Bùi Thị Thúy L2 phải chịu 1.711.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.
Án này là sơ thẩm các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 104/2024/TLST-HS ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về cố ý gây thương tích (vụ án hình sự)
- Số bản án: 104/2024/TLST-HS
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BI CAO T, K "CO Y GAY THUONG TICH"
