Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲNH LƯU

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 116/2023/HSST

Ngày: 28/8/2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nghệ.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Đoá và ông Hồ Hữu Thoả.

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Huyền- Thư ký TAND huyện Quỳnh Lưu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu tham gia phiên tòa:

Ông Hà Đức Thắng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 103/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 8 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh T;

Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 18 tháng 09 năm 1989, tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: thôn D, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn T1 (đã chết) và con bà: Cù Thị N, sinh năm 1965; Anh chị em ruột: có 03 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/6/2023 đến ngày 28/6/2023 sau đó bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.

- Bị hại:

  • + Anh Hoàng T2, sinh năm 1990. Vắng mặt.
  • Nơi cư trú: Xóm M, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
  • + Ông Hồ T3, sinh năm 1953. Vắng mặt.
  • Nơi cư trú: Xóm M, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
  • + Anh Hoàng Xuân H, sinh năm 1971. Vắng mặt.
  • Nơi cư trú: Xóm M, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • + Chị Nguyễn Thị T4, sinh năm 1973. Vắng mặt.
  • Nơi cư trú: Thôn F, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
  • + Anh Hoàng Văn Â, sinh năm 1997. Vắng mặt.
  • Nơi cư trú: Xóm F, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
  • + Anh Lê Đình T5, sinh năm 1977. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • Nơi cư trú: Xóm H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
  • + Anh Hoàng Đức T6, sinh năm 1979. Vắng mặt.
  • Nơi cư trú: Xóm M, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
  • + Chị Trương Thị H1, sinh năm 1985. Có mặt.
  • Nơi cư trú: Tổ B, phường H, thành phố P, tỉnh Hà Nam.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian năm ngày 07, 09, 10, 12 và 15/06/2023, Nguyễn Thanh T đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, cụ thể như sau:

Vào trưa ngày 07/6/2023, Nguyễn Thanh T điều khiển xe mô tô BKS 90B3-598.14 đi hái rau nhót tại khu vực bãi đất bồi. Tại đây, lợi dụng buổi trưa vắng vẻ không có người trông coi Nguyễn Thanh T đã dùng cà lê, mỏ lết, kéo để mở và lén lút lấy trộm 01 (một) mô tơ điện ba pha loại 5,5 KW có trọng lượng hơn 40kg tại hồ nuôi tôm của anh Hoàng Văn  sau đó bán cho anh Lê Đình T5 với số tiền là 470.000₫ (bốn trăm bảy mươi ngàn đồng).

Trưa ngày 09/6/2023, Nguyễn Thanh T điều khiển xe mô tô BKS 90B3-598.14 đi hái rau nhót tại khu vực bãi đất bồi. Tại đây, lợi dụng lúc không có người trông coi, Nguyễn Thanh T đã dùng cà lê, mỏ lết, kéo để mở và lấy trộm 01 (một) mô tơ điện ba pha loại 4 KW có trọng lượng hơn 40kg tại hồ nuôi tôm của anh Hoàng Đức T6 sau đó bán cho chị Nguyễn Thị T4 với số tiền là 500.000đ (năm trăm nghìn đồng).

Trưa ngày 10/6/2023, Nguyễn Thanh T điều khiển xe mô tô BKS 90B3-598.14 đi hái rau nhót tại khu vực bãi đất bồi. Tại đây, Nguyễn Thanh T đã dùng cà lê, mỏ lết, kéo để mở và lấy trộm 01 (một) mô tơ điện ba pha loại 5,5 KW có trọng lượng hơn 50kg tại hồ nuôi tôm của anh Hoàng Đức T6, sau đó bán cho chị Nguyễn Thị T4 với số tiền là 540.000 đồng (năm trăm bốn mươi ngàn đồng).

Trưa ngày 12/6/2023, trong lúc đi hái rau nhót tại khu vực bãi đất bồi, Nguyễn Thanh T đã lén lút dùng cà lê, mỏ lết, kéo để mở và lấy trộm 01 (một) mô tơ điện ba pha loại 3,7 KW có trọng lượng hơn 40kg tại hồ nuôi tôm của anh Hoàng T2 và 01 (một) mô tơ điện ba pha loại 4 KW có trọng lượng hơn 40kg tại hồ nuôi tôm của anh Hoàng Xuân H, sau đó bán cho chị Nguyễn Thị T4, sinh năm 1973 với tổng số tiền là 1.040.000 đồng (một triệu không trăm bốn mươi ngàn đồng).

Trưa ngày 15/6/2023, trong lúc đi hái rau nhót tại khu vực bãi đất bồi, Nguyễn Thanh T đã lén lút dùng cà lê, mỏ lết, kéo để mở và lấy trộm 03 (ba) mô tơ điện ba pha loại 3,8 KW có trọng lượng khoảng 40kg tại hồ nuôi tôm của anh Hồ T3 sau đó bán cho chị Nguyễn Thị T4 với tổng số tiền là 1.350.000 đồng (Một triệu ba trăm năm mươi ngàn đồng).

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 284/KLĐGTS ngày 26 tháng 6 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện Q kết luận: 01 (một) mô tơ điện 3 pha loại 5,5 KW, nặng hơn 40 kg mà Nguyễn Thanh T đã trộm cắp của anh Hoàng Văn  vào ngày 07/6/2023 có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 1.800.000đ (một triệu tám trăm ngàn đồng). 01 (một) mô tơ điện 3 pha loại 4 KW, nặng hơn 40 kg mà Nguyễn Thanh T đã trộm cắp của anh Hoàng Đức T6 vào ngày 09/6/2023 có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 1.400.000đ (một triệu bốn trăm ngàn đồng). 01 (một) mô tơ điện 3 pha loại 5,5 KW, nặng 57 kg mà Nguyễn Thanh T đã trộm cắp của anh Hoàng Đức T6 vào ngày 10/6/2023 có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 1.700.000đ (một triệu bảy trăm ngàn đồng). 01 (một) mô tơ điện 3 pha loại 3,7 KW, nặng 40 kg mà Nguyễn Thanh T đã trộm cắp của anh Hoàng T2 vào ngày 12/6/2023 có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 1.400.000đ (một triệu bốn trăm ngàn đồng). 01 (một) mô tơ điện 3 pha loại 4 KW, nặng hơn 40 kg mà Nguyễn Thanh T đã trộm cắp của anh Hoàng Xuân H vào ngày 12/6/2023 có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 2.000.000đ (hai triệu đồng); 01 (một) mô tơ điện 3 pha loại 3,8 KW, nặng hơn 40 kg mà Nguyễn Thanh T đã trộm cắp của anh Hồ T3 vào ngày 15/6/2023 có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 1.000.000đ (một triệu đồng); 01 (một) mô tơ điện 3 pha loại 3,8 KW, nặng hơn 40 kg mà Nguyễn Thanh T đã trộm cắp của anh Hồ T3 vào ngày 15/6/2023 có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 1.000.000đ (một triệu đồng); 01 (một) mô tơ điện 3 pha loại 3,8 KW, nặng 39 kg mà Nguyễn Thanh T đã trộm cắp của anh Hồ T3 vào ngày 15/6/2023 có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 1.000.000đ (một triệu đồng).

Tổng giá trị tài sản mà Nguyễn Thanh T chiếm đoạt trong năm lần trên có giá trị là 11.300.000đ (mười một triệu ba trăm nghìn đồng). Trong đó, Nguyễn Thanh T phải chịu trách nhiệm hình sự đối với lần trộm cắp vào ngày 12/6/2023 với tổng số tiền là 3.400.000đ (ba triệu bốn trăm nghìn đồng) và lần trộm cắp ngày 15/6/2023 với tổng số tiền là 3.000.000đ (ba triệu đồng). Tổng số tiền mà Nguyễn Thanh T đã trộm cắp vào hai ngày trên và phải chịu trách nhiệm hình sự là 6.400.000đ (Sáu triệu bốn trăm nghìn đồng).

Bản cáo trạng số 117/CT-VKS-QL ngày 01/8/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An truy tố Nguyễn Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm g, khoản 1, Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Nguyễn Thanh T từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.

Không áp dụng hình phạt bổ sung, không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Thanh T đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Các bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì về phần dân sự.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trả lại cho chị Trương Thị H1 chiếc xe mô tô BKS 90B3-598.14.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 cờ lê, 01 mỏ lết, 01 chiếc kéo, 01 bì xác rắn.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban T8; Buộc bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thanh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thấy hành vi của minh là sai, xin hội đồng xét xử bị cáo ở mức án nhẹ nhất, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai có tại hồ sơ; phù hợp về thời gian, địa điểm và đặc điểm tài sản bị mất của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Sự phù hợp, thống nhất của các chứng cứ nêu trên, kết luận: Vào các ngày 12 và 15/6/2023, Nguyễn Thanh T đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và phải chịu trách nhiệm hình sự: Lần thứ nhất: Vào trưa ngày 12/6/2023, tại khu vực hồ nuôi tôm Nguyễn Thanh T đã lén lút trộm cắp của anh Hoàng T2 01 (một) mô tơ điện ba pha loại 3,7 KW có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 1.400.000đ (một triệu bốn trăm nghìn đồng) và trộm cắp của anh Hoàng Xuân H 01 (một) mô tơ điện ba pha loại 4 KW có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 2.000.000đ (hai triệu đồng). Tổng giá trị tài sản Nguyễn Thanh T trộm cắp vào ngày 12/6/2023 là 3.400.000đ (ba triệu bốn trăm nghìn đồng). Lần thứ hai: Vào trưa ngày 15/6/2023, tại khu vực hồ nuôi tôm, Nguyễn Thanh T đã lén lút trộm cắp của anh Hồ T3 03 (ba) mô tơ điện ba pha loại 3,8 KW có tổng giá trị tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt là 3.000.000đ (ba triệu đồng). Hành vi trên của bị cáo phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự như Cáo trạng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự.

Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường thiệt hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bố đẻ là tham gia nhiệm vụ quốc tế tại C được Nhà nước tặng Huân huy chương chiến công hạng ba là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1; khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo phạm tội khi tuổi đời còn trẻ, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và có nơi cư trú rõ ràng, nên không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương như Viện kiểm sát đề nghị cũng đủ niềm tin để bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

[4] Điều kiện hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn về kinh tế nên không phạt tiền bổ sung, không khấu trừ thu nhập.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Thanh T đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Các bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì về phần dân sự nên miễn xét.

[6] Về vật chứng:

01 Chiếc xe mô tô BKS 90B3-598.14 là tài sản của chị Trương Thị H1, chị H1 không biết bị cáo T sử dụng chiếc xe mô tô vào việc phạm tội nên cần trả lại cho chị H1.

01 cờ lê, 01 mỏ lết, 01 chiếc kéo, 01 bì xác rắn là công cụ phương tiện phạm tội không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.

[7] Đối với các hành vi trộm cắp tài sản của Nguyễn Thanh T vào các ngày 07, 09 và 10/6/2023, quá trình điều tra xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạt chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an huyện Q đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm a, khoản 1, điều 15, Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

Đối với chị Nguyễn Thị T4 là người đã thu mua 07 chiếc mô tơ của Nguyễn Thanh T. Quá trình điều tra xác định khi mua chị T4 không biết số mô tơ trên là tài sản do T phạm tội mà có nên không phải chịu trách nhiệm.

Đối với anh Lê Đình T5, theo lời khai của Nguyễn Thanh T là người thu mua mô tơ điện của T vào ngày 07/6/2023. Tuy nhiên, quá trình làm việc anh T5 khai không nhớ được có thu mua mô tơ của T vào ngày 07/6/2023 hay không nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

[7] Bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1, Điều 173; điểm g, khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh T 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 28/8/2023.

Giao bị cáo Nguyễn Thanh T cho UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về trách nhiệm dân sự: Không ai yêu cầu gì nên miễn xét.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trả lại cho chị Trương Thị H1 01 Chiếc xe mô tô BKS 90B3-598.14

Tịch thu tiêu huỷ: 01 cờ lê làm bằng sắt, loại hai đầu vòng, 01 mỏ lết nhãn hiệu FORGED STEEEL dài 29 cm, 01 chiếc kéo nhãn hiệu ASAKH-JAPAN dài 23 cm, 01 bì xác rắn màu trắng.

(Đặc điểm vật chứng có tại biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu hồi 16 giờ 30 phút ngày 02/8/2023).

Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban T8; Buộc bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết bản sao bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ LQ;
  • - VKSND h.Quỳnh Lưu;
  • - Cơ quan điều tra h.Quỳnh Lưu;
  • - Cơ quan THA hình sự h.Quỳnh Lưu;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Chi cục THADS huyện Quỳnh Lưu;
  • - UBND xã Quỳnh Đôi;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Nghệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 116/2023/HSST ngày 28/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 116/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh T phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger