Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH CỬU

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 116/2024/HS-ST

Ngày 27/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung

Các Hội thẩm nhân dân:

  • + Bà Trần Thị Hoa
  • + Ông Huỳnh Bình

- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Đức Hoàng – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Tuất – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm: Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai và điểm cầu thành phần: Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam Công an huyện V, tỉnh Đồng Nai, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 106/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Bùi Ngọc T, sinh năm 1996, tại: Đồng Nai; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 332/46/1, đường P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: tổ A, ấp D, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn N (đã chết) và bà Trần Ngọc D (còn sống); tiền án: không; tiền sự: không.

Nhân thân:

  • - Ngày 15/10/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 (mười tám) tháng.
  • - Ngày 22/01/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 (hai mươi tư) tháng.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/4/2024, chuyển tạm giam cho đến nay (Có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: bà Trần Ngọc D, sinh năm 1967

Nơi cư trú: ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

* Người chứng kiến: ông Trần Hữu D1, sinh năm 1975

Nơi cư trú: Ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Ngọc T là đối tượng nghiện ma túy. Thông qua bạn bè, T biết có người phụ nữ (không rõ họ tên, địa chỉ) bán ma túy tại khu vực vườn cao su gần bãi rác thuộc phường T, thành phố B. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 21/4/2024, Bùi Ngọc T điều khiển xe mô tô biển số 60K1-8955 đi từ nhà tại ấp D, xã T, huyện V đến khu vực vườn cao su gần bãi rác thuộc phường T, thành phố B tìm gặp người phụ nữ nói trên để mua ma túy. Khi đến khu vực vườn cao su, T gặp người phụ vữ và thỏa thuận mua 200.000 đồng ma túy đá, người phụ nữ bán cho T 01 túi nilon màu đen bên trong có 01 đoạn ống hút màu trắng chứa ma túy đá được hàn kín hai đầu. T bỏ ma túy vào túi quần bên trái rồi điều khiển xe mô tô biển số 60K1-8955 quay về nhà để sử dụng. Khoảng 10 giờ 50 phút cùng ngày, khi T đi đến đoạn đường thuộc ấp D, xã T thì bị Công an xã T yêu cầu dừng xe kiểm tra. Công an xã T phát hiện trong túi quần bên trái của T có 01 túi nilon màu đen bên trong có 01 đoạn ống hút màu trắng chứa ma túy được hàn kín hai đầu nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, chuyển cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V giải quyết theo quy định pháp luật. (Bút lục số: 19-21; 50-59).

Tang vật thu giữ:

  • + T1 trong túi quần bên trái của T 01 túi nilon màu đen bên trong có 01 đoạn ống hút màu trắng hàn kín hai đầu bên trong ống hút chứa tinh thể rắn màu trắng;
  • +T1 tại hiện trường: 01 xe mô tô Wave màu xanh biển số 60K1-8955.

Quá trình điều tra xác định: Xe mô tô màu xanh biển số 60K1-8955 do anh Tiêu Thanh G, sinh năm 1974, nơi cư trú: khu phố C, phường T, thành phố B là chủ sở hữu. Năm 2008, anh G bán xe cho người không nhớ rõ họ tên, địa chỉ. Bà Trần Ngọc D (mẹ của T) khai mua xe mô tô trên từ người không nhớ rõ họ tên địa chỉ, khi mua có giao nhận giấy Chứng nhận đăng ký xe nhưng không làm thủ tục sang tên chủ sở hữu. Ngày 21/4/2024, bà để xe ở nhà, T tự ý điều khiển xe đi mua ma túy và bị bắt quả tang. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã giao trả xe mô tô biển số 60K1-8955 cho bà Trần Ngọc D.

Tại Kết luận giám định chất ma túy số 815/KL-KTHS ngày 26/4/2024 của Giám định viên Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,209 gam, loại Methamphetamine. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,182 gam. Toàn bộ đối tượng sau giám định được hoàn lại trong niêm phong số 815/KL-KTHS.

Quá trình điều tra cũng như quá trình xét xử, bị cáo không có ý kiến gì về Bản kết luận giám định của Công an tỉnh Đ.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tiến hành xác minh đối tượng bán ma túy cho T nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch.

Cáo trạng số 116/CT-VKSVC ngày 29/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Bùi Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, các Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 (phạm tội lần đầu) Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố bị cáo Bùi ngọc T2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo mức án từ 14 (mười bốn) tháng tù đến 16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/4/2024.

  • + Xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ đối tượng sau giám định trong niêm phong số 815/KL-KTHS; 01 túi nilon màu đen.
  • + Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, đã có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 10 giờ 50 phút ngày 21/4/2024 tại ấp D, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai, Bùi Ngọc T có hành vi tàng trữ 0,209 gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích sử dụng.

Bị cáo Bùi Ngọc T đã cất giấu trái phép chất ma túy có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý công cộng các loại chất cấm của Nhà nước. Do đó, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, răn đe đối với bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm nói chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5] Xử lý vật chứng:

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V đã trả lại xe mô tô biển số 60K1-8955 cho bà Trần Ngọc D nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ đối tượng sau giám định trong niêm phong số 815/KL-KTHS; 01 túi nilon màu đen.

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[7] Kiến nghị Cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ để xử lý đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

[8] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; các Điều 38, 47, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, 136, 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

  1. Tuyên bố bị cáo Bùi Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

    Xử phạt bị cáo Bùi Ngọc T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/4/2024.

  2. Xử lý vật chứng:

    - Tịch thu tiêu hủy: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ đối tượng sau giám định trong niêm phong số 815/KL-KTHS; 01 túi nilon màu đen.

    (Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 30/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai).

  3. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
  • - VKSND huyện Vĩnh Cửu;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự huyện Vĩnh Cửu;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Hồng Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 116/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 116/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Ngọc T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger