Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 116/2024/HS-ST
Ngày 26/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Song Hoàn

Ông Vũ Văn Chương

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngà – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Thùy L - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 88/2024/HS-ST ngày 01 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2024/QĐST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Trần Văn H, sinh năm 1995 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: 288/12 đường T, phường E, TP ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Thợ điện; Trình độ văn hoá: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Cha: Trần Văn H1, sinh năm 1969; Mẹ: Huỳnh Thị L1, sinh năm 1969; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 04/05/2018, bị Tòa án nhân dân TP Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu với thời hạn 20 tháng (theo quyết định số 217/2019/QĐ-TA, ngày 15/05/2019). Ra trại ngày 04/11/2019.

Bị bắt tạm giam từ ngày 18 tháng 12 năm 2023. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 18/12/2023, tại trước hẻm S đường B, Phường E, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Công an P, TP ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bắt quả tang Trần Văn H đang có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy (Methamphetamine) đồng thời thu giữ vật chứng của vụ án.

Tại cơ quan Công an, Trần Văn H khai nhận như sau: Bản thân sử dụng trái phép chất ma túy từ đầu năm 2016 cho đến nay. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng 02 giờ 00 phút ngày 18/12/2023, H đi xe ôm ra khu vực đầu hẻm H đường B, Phường E, TP ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, gặp một người thanh niên không biết tên (không rõ nhân thân lai lịch), do một người bạn nữ tên H2 (không rõ nhân thân lai lịch) đã hẹn từ trước. H đến gặp người thanh niên này và nhận gói ma túy. Sau đó, H mang gói ma túy về đầu hẻm A đường B, Phường E, TP . gặp H2 để H2 dẫn lên phòng trọ của bạn H2 thuê nhằm mục đích sử dụng. Đến khoảng 02 giờ 30 phút ngày 18/12/2023, H mang theo gói ma túy trên đi đến trước địa chỉ số A đường B, Phường E, TP ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thì bị Công an P, TP ., phát hiện bắt quả tang và thu giữ tang vật. (các bút lục điều tra từ số 47 đến số E).

Tại Kết luận giám định số 24/KL-KTHS-MT ngày 21/12/2023 của Phòng K, Công an tỉnh B kết luận: 01 (một) gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu, trong suốt gửi giám định có khối lượng là 0,1441 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.

Lời khai của Trần Văn H phù hợp với chứng cứ thu thập được và phù hợp với lời khai của anh Nguyễn Việt T (sinh năm: 1995; nơi thường trú: 1 L, phường T, TP ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) là người chứng kiến (các bút lục điều tra số 62, 63).

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng trong vụ án:

Lực lượng chức năng đã thu giữ vật chứng vụ án gồm:

  • 01 (một) gói nylon chứa chất kết tinh không màu, trong suốt qua giám định có khối lượng là 0,1441 gam, là ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định tại Phòng K Công an tỉnh B.
  • Sau giám định, Phòng K Công an tỉnh B hoàn lại 01 phong bì niêm phong số 24 ngày 21/12/2023.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A20, màu đỏ; số Imei 1: 357648100166763; SỐ I 2: 357649100166761.

Xử lý vật chứng:

- Số vật chứng trên được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự TP Vũng Tàu quản lý, chờ xử lý.

Bản cáo trạng số 78/CT-VKSTPVT ngày 25/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố Trần Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo;

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy là tang vật trong vụ án; Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A20, màu đỏ; số Imei 1: 357648100166763; Số I 2: 357649100166761.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh và không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần mức án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 18/12/2023, tại khu vực trước hẻm S đường B, phường E, TP ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Công an phường P, TP ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bắt quả tang Trần Văn H có hành vi tàng trữ trái phép 0,1441 gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

Như vậy, hành vi Trần Văn H thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy được pháp luật hình sự bảo vệ; là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành có đầy đủ năng lực hành vi, là người sử dụng ma túy nên biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo có nhân thân xấu, vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

  • Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định nên không có khả năng thi hành án phạt bổ sung là hình phạt tiền. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 24 ngày 21/12/2023 do Phòng K Công an tỉnh B hoàn lại sau khi giám định.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A20, màu đỏ; số Imei 1: 357648100166763; Số Imei 2: 357649100166761, bị cáo sử dụng để liên lạc phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

[6] Đối với người thanh niên không biết tên (không rõ nhân thân lai lịch), giao ma túy cho H và người phụ nữ tên H2 (không rõ nhân thân lai lịch), nhờ H ra khu vực đầu hẻm H đường B, Phường E, TP V tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, để lấy gói ma túy đá mang về phòng trọ sử dụng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T cần tiếp tục điều tra, xác minh để xử lý theo quy định của pháp luật.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Trần Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  2. Căn cứ: Điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự:

    Xử phạt: Trần Văn H: 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18 tháng 12 năm 2023;

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 24 ngày 21/12/2023 do Phòng K Công an tỉnh B hoàn lại sau khi giám định.
    • Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A20, màu đỏ; số Imei 1: 357648100166763; Số Imei 2: 357649100166761

    Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 143/BB - CCTHADS ngày 28/3/2024.

  4. Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án, để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (PV06; PC10);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - VKSND thành phố Vũng Tàu;
  • - Công an thành phố Vũng Tàu;
  • - Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu;
  • - Nhà tạm giữ Công an thành phố Vũng Tàu;
  • - Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thu Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 116/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 116/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Huy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger