Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 116/2024/DS-ST

Ngày: 26-4-2024

V/v tranh chấp dân sự

hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Lý Thị Rỡ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Ngân và ông Lê Văn Phương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Bạch Tuyết – Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 27/2024/TLST- DS ngày 17 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp dân sự hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 95/2024/QĐST-DS ngày 11 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S (gọi tắt là S1)

Địa chỉ trụ sở: Lầu 8, số B N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức vụ: Tổng Giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Hồ Thị Minh T – Chức vụ: Phó Giám đốc Trung tâm thẻ.

Uỷ quyền lại cho ông Lã Ngọc M, sinh năm 1970 – Chức vụ: Nhân viên S1 theo Giấy ủy quyền số 2935/2023/GU-TGĐ ngày 08/9/2023 của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Q và khai thác tài sản Ngân hàng S (Công ty S2) (vắng mặt)

Nơi thường trú: 11/5/15 tổ C, khu phố B, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh;

Địa chỉ liên lạc: 278 đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Bà Huỳnh Thanh T1, sinh năm 1977 (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ A, ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết nguyên đơn trình bày:

Ngày 01/06/2020, bà Huỳnh Thanh T1 có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là S1) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp Thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng của S1 - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà Huỳnh Thanh T1, S1 đã đồng ý cấp Thẻ tín dụng số thẻ 472074-2287 với hạn mức sử dụng là 25,000,000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà Huỳnh Thanh T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 50,000,000 đồng.

Trong quá trình sử dụng Thẻ tín dụng, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà Huỳnh Thanh T1 đã thanh toán cho S1 số tiền 33,447,000đ (chi tiết các lần thanh toán trong bảng sao kê tóm tắt đính kèm). Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo điều 21 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng của Ngân hàng cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau: Các khoản phí và/ hoặc lãi của kỳ trước; Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước; Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước; Các khoản phí và/ hoặc lãi trong kỳ; Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ; Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ.

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà Huỳnh Thanh T1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà Huỳnh Thanh T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của S1), ngày 23/08/2021 S1 đã chấm dứt quyền sử dụng Thẻ tín dụng và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng Thẻ tín dụng của Ngân hàng). S1 đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 22.242.265 đồng làm nợ gốc và tính lãi hàng tháng trên dư nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại, lãi suất trong hạn là 2,6%/tháng x 150% = 3,9%/tháng lãi quá hạn). Mặc dù S1 đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với bà Huỳnh Thanh T1, yêu cầu bà Huỳnh Thanh T1 có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời S1 cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để bà Huỳnh Thanh T1 trả nợ, tuy nhiên bà Huỳnh Thanh T1 vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho S1, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.

Nay S1 yêu cầu bà Huỳnh Thanh T1 trả nợ cho nguyên đơn số tiền tạm tính đến ngày 26/4/2024 là 50.521.135 đồng, trong đó nợ gốc 22.242.265 đồng; lãi quá hạn 28.278.870 đồng, tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 27/4/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng vắng mặt không rõ lý do, không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và những người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của pháp luật, đối với bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt khi xét xử không rõ lý do, cho thấy với chưa chấp hành theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

- Buộc bà Huỳnh Thanh T1 trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S nợ gốc 22.242.265đồng, lãi quá hạn tạm tính đến ngày 26/4/2024 là 27.845.145đồng. Tổng cộng 50.087.410 đồng và tiếp tục tính lãi từ ngày 27/4/2024 đến khi trả dứt nợ theo lãi suất thảo thuận tại hợp đồng tín dụng.

- Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Theo nội dung đơn khởi kiện nguyên đơn yêu cầu bị đơn có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn vốn vay và lãi tính theo Hợp đồng tín dụng ngày 01/6/2020, đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” quy định tại Khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[1.2] Bị đơn có nơi cư trú tại ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[1.3] Nguyên đơn vắng mặt và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt đúng theo quy định pháp luật. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân đã tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn nhưng vẫn vắng mặt lần thứ 2, do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành phiên tòa xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1] Nguyên đơn yêu cầu bị đơn có nghĩa vụ thanh toán nợ gốc theo Hợp đồng tín dụng số ngày 01/6/2020 đã ký giữa hai bên, nợ gốc 22.242.265 đồng. Xét thấy, Hợp đồng tín dụng giữa hai bên được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận với nhau được lập thành văn bản là phù hợp với Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng nên hợp đồng tín dụng phát sinh hiệu lực. Bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu trả nợ gốc 22.242.265 đồng là có căn cứ.

[2.2] Đối với yêu cầu của nguyên đơn về trả tiền lãi quá hạn tính từ ngày 23/8/2021 đến ngày 26/4/2024 với số tiền 28.278.870 đồng và tiếp tục tính lãi từ ngày 27/4/2024 đến khi trả dứt nợ. Hội đồng xét xử xét thấy, bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán vốn và lãi nên nguyên đơn yêu cầu tính lãi từ ngày vi phạm với mức lãi suất bằng 150% lãi suất trong hạn (2,6%/tháng x 150% = 3,9%/tháng) là phù hợp với mục “Cam kết” của giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 01/6/2020; mục 23 của Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của S1 và Quyết định số 2399/2019/QĐ-TTT ngày 06/8/2019 về việc ban hành biếu phí sản phẩm dịch vụ Thẻ S1 phát hành tại Việt Nam của S1. Nguyên đơn và bị đơn đã tự nguyện thoả thuận mức lãi suất phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng, nên yêu cầu tính lãi của nguyên đơn là có căn cứ.

Từ các căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn nợ gốc và lãi quá hạn tính đến ngày 26/4/2024 là 50.521.135 đồng, từ ngày 27/4/2024 tiếp tục trả lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng cho đến khi bị đơn thanh toán toàn bộ khoản tiền vay.

[2.3] Về án phí sơ thẩm, căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 266 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần S.

    Buộc bà Huỳnh Thanh T1 trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S nợ gốc 22.242.265 đồng, lãi tính đến ngày 26/4/2024 là 28.278.870 đồng.

    Kể từ ngày 27/4/2024 bà Huỳnh Thanh T1 còn phải trả lãi theo mức lãi suất của hợp đồng tín dụng, tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Huỳnh Thanh T1 phải chịu án phí sơ thẩm là 2.526.000 đồng.

Ngân hàng thương mại cổ phần S được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã đóng 1.089.538 đồng theo biên lai số 0030627 ngày 09/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân;
  • - Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lý Thị Rỡ

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 116/2024/DS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 116/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger