|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN Bản án số: 116/2024/HNGĐ-ST Ngày: 25/9/2024 V/v tranh chấp "Ly hôn" |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tâm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thiều Minh Trường và bà Lê Thị Đông Nguyệt
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Cao Tấn Tiến - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 238/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2024 về việc tranh chấp "Ly hôn".
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 87/2024/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ánh N, sinh năm 1976; Địa chỉ: B L, phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
- Bị đơn: Anh Đỗ Trọng L, sinh năm 1976; HKTT: xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Chỗ ở hiện tại: khu phố N, phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
Chị N có mặt, anh L vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ánh N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Tôi với anh L tự nguyện tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, thị xã T và được Ủy ban nhân dân xã B, thị xã T cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 08/6/2000. Sau khi kết hôn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn nghiêm trọng nguyên nhân là bắt đầu đoạn đường sống, anh L thường xuyên rượu chè, cờ bạc và đánh đập, xúc phạm danh dự, đuổi tôi ra khỏi nhà. Đến nay, vợ chồng đã ly thân được một năm, ai muốn sống sao thì sống, không quan tâm đến ai. Nay tôi yêu cầu Tòa án cho tôi được ly hôn với anh L.
Về con chung: Vợ chồng chúng tôi có 02 con chung: cháu Đỗ Thị Hồng Á, sinh ngày 26/4/2000 và cháu Đỗ Trọng T, sinh ngày 11/6/2003. Hiện các cháu đã trưởng thành, có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa giải quyết con chung.
Nợ chung và tài sản chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết.
Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên đã tiến hành hòa giải nhưng không được.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn chị N vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với bị đơn anh L vì lý do cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không được. Về con chung, nợ chung và tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí nguyên đơn chịu theo quy định pháp luật.
- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng:
Trong quá trình thụ lý, giải quyết, xét xử vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng; việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát cùng cấp và người tham gia tố tụng đúng theo quy định. Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định về quyền, nghĩa vụ và nội quy phiên tòa. Bị đơn đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt do đó phải gánh chịu hậu quả của việc vắng mặt của mình và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn xin ly hôn của nguyên đơn chị N; về con chung, tài sản chung và nợ chung không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết. Nguyên đơn chị N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào ý kiến của đương sự và ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh L vắng mặt đến lần thứ hai nhưng không có lý do mặc dù đã được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
[2] Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị N:
Tại phiên tòa, chị N trình bày lý do yêu cầu ly hôn là vì bị anh L bạo lực gia đình, thường xuyên đánh chị N, xúc phạm danh dự, dẫn đến gia đình không hạnh phúc, mâu thuẫn kéo dài và đến nay vợ chồng không sống chung, không ai quan tâm ai.
Tại biên bản xác minh ngày 30/8/2024, chính quyền địa phương phường I cung cấp: “tình trạng hôn nhân mâu thuẫn như thế nào địa phương không biết vì chị N anh L không báo cáo với chính quyền địa phương”.
Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng nhưng bị đơn anh L vẫn vắng mặt, cho thấy bị đơn anh L cố ý bỏ mặc cho hôn nhân của mình và phải gánh chịu hậu quả pháp lý của việc vắng mặt.
Hội đồng xét xử có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân của chị N anh L đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị N.
[3] Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
[4] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, nguyên đơn chị N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 180, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ánh N về việc yêu cầu ly hôn với anh Đỗ Trọng L. Chị Nguyễn Thị Ánh N được ly hôn với anh Đỗ Trọng L.
- Về con chung, tài sản chung, nợ chung: không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ánh N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, đã nộp đủ tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002626 ngày 17/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa nên không phải nộp thêm.
- Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Tâm |
Bản án số 116/2024/HNGĐ-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về ly hôn
- Số bản án: 116/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu nguyên đơn
