Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÓC MÔN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 116/2024/HS-ST

Ngày: 24-5-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mai.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Long.
  2. Ông Bùi Văn Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vui - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Phú - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 137/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Xuân T; giới tính: nam; tên gọi khác: không; sinh năm 1993; nơi sinh: tỉnh Đắk Lắk; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn A, xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; trình độ học vấn: 0/12; nghề nghiệp: không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên Chúa; con ông: Phạm Xuân Đ (đã chết) và bà Lê Thị Lan H (đã chết); anh, chị, em: có 03 người; vợ, con: chưa có.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 25/01/2021, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong ngày 26/4/2022.

Nhân thân: Ngày 09/7/2013, bị Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 năm tù về tội “Cướp tài sản” theo Bản án số 100/2013/HSST; chấp hành hình phạt xong ngày 23/01/2019; đã đóng án phí (người được bồi thường không có đơn yêu cầu bồi thường về dân sự, đã hết thời hiệu thi hành).

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/01/2024 (có mặt).

Bị hại: Ông Nguyễn Trung H1, sinh năm 1989 (vắng mặt);

Địa chỉ: 6 ấp H, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1993 (vắng mặt);

Địa chỉ: Thôn V, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 16 giờ ngày 14/01/2024, do cần tiền tiêu xài nên Phạm Xuân T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. T đi từ quận B đến bến xe A tìm tài sản của người dân sơ hở để lấy trộm.

Khi đến trước nhà số F ấp H, xã B, huyện H, T thấy 01 xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 59N2-488.38 của anh Nguyễn Trung H1 dựng trước sân nhà, chìa khóa vẫn cắm trên ổ khóa xe, không có người trông coi, cửa cổng rào khép lại nhưng không khóa. T lén lút mở cửa rào đi vào trong sân rồi ngồi lên chiếc xe gạc chống, mở công tắc và lùi về sau khoảng 2m thì hệ thống báo chống trộm của xe kích hoạt. Lúc này, ông Lê Văn B truy hô nên T hoảng sợ gác chống xe xuống và chạy bộ ra ngoài tẩu thoát thì bị người dân truy đuổi, bắt quả tang giao cho Công an xã B xử lý.

Kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐGTS ngày 18/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự kết luận: 01 xe gắn máy hiệu Honda Vision biển số 73E1-434.33 (là xe biển số 59N2-488.38), số khung RLHJK0304MY020429, số máy JK03E0026501 trị giá 12.000.000 đồng.

Vật chứng thu giữ:

01 xe gắn máy nhãn hiệu Honda Vision màu trắng biển số 59N2-488.38. Xe máy trên có số khung RLHJK0304MY020429, số máy JK03E0026501 và biển số thật là 73E1-434.33 của chị Nguyễn Thị H2 là chủ sở hữu bị mất trộm. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã bàn giao xe là vật chứng của vụ án cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai để xử lý theo thẩm quyền.

700.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 12 màu xanh đã cũ.

01 ba lô màu đỏ dây khóa kéo màu đen có dòng chữ AIA, 01 áo khoác màu đen, 01 nón lưỡi trai màu đen, 01 bịt xịt hơi cay màu trắng.

Về dân sự: Ông Nguyễn Trung H1 không yêu cầu bồi thường.

Tại Bản cáo trạng số 146/CT-VKSHM-HS ngày 04 tháng 5 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Phạm Xuân T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn giữ quyền công tố tại phiên tòa phát biểu: Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai tại phiên tòa cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Xuân T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015; đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Vào lúc 16 giờ ngày 14/01/2024, Phạm Xuân T đi từ quận B đến bến xe A nhằm tìm tài sản của người dân sơ hở để lấy trộm. Khi đến trước nhà số F ấp H, xã B, huyện H, T thấy 01 xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 59N2-488.38 dựng trước sân nhà, chìa khóa vẫn cắm trên ổ khóa xe, không có người trông coi, cửa cổng rào khép lại nhưng không khóa. T lén lút mở cửa rào đi vào trong sân rồi ngồi lên chiếc xe gạc chống, mở công tắc và lùi về sau khoảng 2m thì hệ thống báo chống trộm của xe kích hoạt. Lúc này, ông Lê Văn B truy hô nên T hoảng sợ gác chống xe xuống và chạy bộ ra ngoài tẩu thoát thì bị người dân truy đuổi bắt quả tang giao cho Công an xã B xử lý.

Tài sản bị cáo trộm trị giá 12.000.000 đồng.

[2] Lời khai của bị cáo phù hợp với các lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

[3] Bị cáo Phạm Xuân T là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự nhưng bị cáo vẫn có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá 12.000.000 đồng. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn truy tố bị cáo T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an xã hội. Bị cáo có 01 tiền sự. Do đó, cần có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về xử lý vật chứng:

01 xe gắn máy nhãn hiệu Honda Vision màu trắng biển số 59N2-488.38. Xe máy trên có số khung RLHJK0304MY020429, số máy JK03E0026501 và biển số thật là 73E1-434.33, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã bàn giao xe cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T để xử lý theo thẩm quyền nên Hội đồng xét xử không xét.

01 biển số 59N2-488.38; 01 ba lô màu đỏ dây khóa kéo màu đen có dòng chữ AIA, 01 áo khoác màu đen, 01 nón lưỡi trai màu đen, 01 bịt xịt hơi cay màu trắng: Cần tịch thu tiêu hủy.

700.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 12 màu xanh đã cũ: Không liên quan đến vụ án nên giao trả cho bị cáo.

[8] Về dân sự: Bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.

[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ Điều 106 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  1. Xử phạt: Bị cáo Phạm Xuân T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 14/01/2024.
  2. Xử lý vật chứng:
    • 2.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 biển số 59N2-488.38; 01 ba lô màu đỏ dây khóa kéo màu đen có dòng chữ AIA, 01 áo khoát màu đen, 01 nón lưỡi trai màu đen, 01 bịt xịt hơi cay màu trắng.
    • 2.2. Trả lại cho bị cáo Phạm Xuân T số tiền 700.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 12 màu xanh đã qua sử dụng.
    • (Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 08/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn).
  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Phạm Xuân T phải chịu 200.000 đồng.
  4. Án xử sơ thẩm công khai. Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (vắng mặt tại phiên tòa) được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - Sở Tư pháp TP. HCM;
  • - VKSND huyện Hóc Môn;
  • - Công an huyện Hóc Môn;
  • - Chi cục THADS huyện Hóc Môn;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 116/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 116/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: XỬ PHẠT 1 NĂM 6 THÁNG TÚ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger