|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 116/2024/HS-ST Ngày 21/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - TP.HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Dương Văn Xuyên.
Ông Nguyễn Văn Vĩ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đắc Minh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên tòa:
Bà Bùi Thị Thanh Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 92/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Duy A, sinh năm 2005 tại tỉnh Thái Nguyên; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Phố ST 2, thị trấn HS, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Con ông Vũ Anh T (đã chết) và bà Vũ Anh Đ (đã chết); vợ, con: Chưa; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không; tạm giữ, tạm giam: Không; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại: Chị Dương Thu H, sinh năm 2004; Nơi cư trú: Thôn ĐL, xã BB, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn (vắng mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Bùi Văn N, sinh năm 2005; nơi cư trú: Tổ dân phố ST 2, thị trấn HS, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do quen biết từ trước, ngày 15/12/2023, Vũ Duy A biết chị Dương Thu H sẽ xuống Trường Cao đẳng thương mại PY, Cơ sở 2 thuộc thôn CH, xã MT, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội học nên đã gọi điện hỏi đi nhờ xe. Khoảng 11h 30, chị H điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng đen bạc, BKS 20H1-467.56 qua đón Duy A xuống trường. Khi đến nơi, Duy A hỏi mượn xe máy của chị Hà để xuống khu vực phường MTr, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội tìm việc, chiều sẽ trả xe, chị H đồng ý và giao xe cho Duy A, bên trong cốp xe có 01 giấy phép lái xe mang tên Dương Thu H, 01 đăng ký xe và 01 bảo hiểm trách nhiệm dân sự của xe. Mượn được xe, Duy A điều khiển xe máy đến ở nhờ tại phòng trọ của C (bạn Duy A) và đi tìm việc quanh khu vực Hà Nội nhưng không được nên đã nảy sinh ý định bán chiếc xe của chị Hà để lấy tiền chi tiêu cá nhân. Sáng ngày 17/12/2023, chị Hà đã nhiều lần liên hệ cho Duy A để lấy lại xe nhưng Duy A không nghe máy và chặn số điện thoại của chị Hà. Ngày 21/12/2023, Duy A điều khiển xe máy của chị H đến bán cho anh Bùi Văn N, sinh năm 2005, trú tại tổ dân phố Sơn Tập 2, thị trấn HS, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên với giá 6.100.000 đồng. Sau đó, anh N đã chuyển 6.100.000 đồng vào tài khoản số 6803052005 lập tại Techcombank của Duy A, số tiền này, Duy A đã chi tiêu cá nhân hết. Mấy ngày sau, anh N bán xe máy cho 01 nam giới không rõ nhân thân với giá 8.000.000 đồng và chi tiêu hết số tiền này. Chị H sau nhiều lần nhắn tin, gọi điện đòi xe nhưng Duy A không trả đã trình báo Cơ quan Công an huyện Sóc Sơn giải quyết.
Tại Kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐ ngày 18/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện Sóc Sơn kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu sơn trắng đen bạc, BKS: 20H1-467.56, đăng ký lần đầu ngày 16/10/2018, mua cũ ngày 07/10/2023 trị giá: 8.597.400 đồng.
Bản cáo trạng số 79/CT-VKS ngày 22/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố bị cáo Vũ Duy A về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo khai: Trưa ngày 15/12/2023, sau khi mượn xe của chị H, bị cáo xuống khu vực Nam Từ Liêm, Hà Nội để tìm việc nhưng không được nên bị cáo nảy sinh ý định bán xe của chị H lấy tiền chi tiêu cá nhân. Sau đó bị cáo đã liên hệ và bán xe cho anh Bùi Văn N, khi bán xe, bị cáo nói cho anh N xe máy của bác bị cáo, không có nhu cầu sử dụng và anh N đồng ý mua xe với giá 6.100.000 đồng. Nay bị cáo tự nguyện bồi thường cho chị H giá trị xe là 8.600.000 đồng, bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
* Người bị hại là chị Dương Thu H trình bày (bút lục: 35 – 36): Chị và Duy A quen nhau từ đầu năm 2023 khi tham gia chơi thể thao tại Trường Đại học khoa học TN. Sau đó, chị theo học tiếng Nhật tại Trường Cao đẳng thương mại PY tại MT, Sóc Sơn, Hà Nội. Sáng ngày 15/12/2023, Duy A gọi điện cho chị hỏi đi nhờ xe xuống Hà Nội, chị đồng ý. Khoảng 11h, chị điều khiển xe máy BKS: 20H1-467.56 đến nhà đón Duy A tại thị trấn HS, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên để cùng đi xuống trường. Khi đến nơi, Duy A hỏi mượn xe máy đi xuống phòng trọ ở Nam Từ Liên, Hà Nội. Khi đưa xe cho Duy A, trong cốp xe có 01 giấy phép lái xe mang tên Dương Thu H, 01 đăng ký xe và 01 bảo hiểm trách nhiệm dân sự của xe, Duy A hẹn chiều về trả xe nhưng sau đó không trả. Từ tối ngày 17/12/2023 đến đầu năm 2024, chị nhiều lần gọi điện, nhắn tin yêu cầu Duy A trả xe nhưng Duy A không nghe máy, không trả lời tin nhắn và không gặp mặt nói chuyện nên chị đã trình báo Công an giải quyết. Xe máy BKS: 20H1-467.56 chị mua cũ tại Cửa hàng xe máy ở Bắc Kạn vào tháng 10/2023 với giá 13.000.000 đồng, đăng ký xe mang tên Võ Văn S. Nay chị yêu cầu bị cáo bồi thường cho chị số tiền 23.000.000 đồng tiền giá trị xe và 4.000.000 đồng tiền chi phí đi lại.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Bùi Văn N trình bày (bút lục 54 - 55): Tối ngày 21/12/2023, Vũ Duy A gọi điện bảo anh nếu mua xe thì ra quán game Net Top. Khi anh ra thì Duy A chỉ 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng đen bạc, BKS 20H1-467.56 bảo xe của bác, cần tiền nên bán và đưa giấy tờ xe cho anh xem, anh trả giá 6.100.000 đồng, Duy A đồng ý bán. Sau đó, anh chuyển khoản 6.100.000 đồng vào tài khoản 6803052005 lập tại Techcombank của Duy A. Vài hôm sau, anh bán xe cho người đi được được 8.000.000 đồng, số tiền này anh chi tiêu cá nhân hết. Anh không biết xe máy trên do Duy A phạm tội mà có.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn luận tội:
Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự:
- - Xử phạt Vũ Duy A mức án từ 06 đến 09 nhưng cho hưởng án treo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng, kể từ ngày tuyên án.
- - Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường cho chị Dương Thu H số tiền 8.600.000 đồng.
- - Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
- - Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sóc Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai người bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Do quen biết từ trước, khoảng 13h30 ngày 15/12/2023 tại Trường Cao đẳng thương mại PY, Cơ sở 2 thuộc thôn CH, xã MT, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, Vũ Duy A hỏi mượn của chị Dương Thị Hà 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, BKS: 20H1-467.56 để xuống khu Nam Từ Liêm, Hà Nội tìm việc nhưng không được nên đã nảy sinh ý định bán xe máy của chị Hà để lấy tiền chi tiêu cá nhân. Sau đó, Duy A liên hệ và bán xe máy nêu trên cho anh Bùi Văn N lấy 6.100.000 đồng, số tiền này Duy A chi tiêu cá nhân hết. Vài ngày sau, anh Bùi Văn N bán lại xe máy nên trên cho người lạ mặt được 8.000.000 đồng, số tiền này anh N chi tiêu hết. Tại Kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐ ngày 18/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện Sóc Sơn kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu sơn trắng đen bạc, BKS: 20H1-467.56 trị giá: 8.597.400 đồng. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như nêu trên là có căn cứ.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Do đó, việc đưa bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật là cần thiết nhằm răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên cũng cần xem xét đến nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường cho người bị hại để khắc phục hậu quả nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về nhân thân: Tính đến lần phạm tội này, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
Xét thấy, bị cáo tuổi đời còn trẻ, phạm tội lần đầu, nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Vì vậy Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo mà cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, được cải tạo tại địa phương cũng có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 175 Bộ luật hình sự quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với người phạm tội. Nhưng xét thấy, bị cáo làm nghề tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng.
[5]. Đối với anh Bùi Văn N: Khi mua xe máy, Duy A không nói cho anh N biết nguồn gốc tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sóc Sơn không đề cập xử lý.
[6]. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Quá trình điều tra, người bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 27.000.000 đồng, trong đó giá trị xe là 23.000.000 đồng và chi phí đi lại tìm xe là 4.000.000 đồng. Xét thấy, lời khai của chị H có trong hồ sơ thể hiện, xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng đen bạc, BKS 20H1-467.56 chị mua cũ tại Cửa hàng xe máy ở Bắc Kạn vào tháng 10/2023. Đồng thời theo Kết luận định giá tài sản 17/KL-HĐ ngày 18/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện Sóc Sơn thì xe máy nêu trên trị giá 8.597.400 đồng. Mặt khác, ngoài lời khai chị không xuất trình được bất kỳ tài liệu, chứng cứ gì chứng minh việc chị H đã sửa chữa, thay thế phụ tùng làm tăng giá trị xe và chi phí đi lại để tìm xe. Vì vậy không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của chị H.
Tại phiên tòa, bị cáo tự nguyện bồi thường cho chị H số tiền 8.600.000 đồng nên ghi nhận. Xác nhận bị cáo đã bồi thường cho chị H số tiền 8.600.000 đồng theo Biên lai thu số 0022549 ngày 21/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
[7]. Về biện pháp tư pháp: Quá trình điều tra, anh Bùi Văn N xác định mua xe máy BKS 20H1-467.56 của Vũ Duy A với giá 6.100.000 đồng, sau đó bán lại cho người không quen biết với giá 8.000.000 đồng, số tiền này anh chi tiêu hết. Xét số tiền 1.900.000 đồng anh N có được xuất phát từ việc bán tài sản bất hợp pháp nên cần truy thu số tiền này của anh N để sung quỹ.
[8]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 175; điểm i, s, b khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự:
Xử phạt Vũ Duy A 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời gian thử thách 16 (mười sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Vũ Duy A cho Ủy ban nhân dân thị trấn HS, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường cho chị Dương Thu H số tiền 8.600.000 đồng. Xác nhận bị cáo đã bồi thường cho chị Dương Thu H số tiền 8.600.000 đồng theo Biên lai thu số 0022549 ngày 21/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47; điểm b khoản 1 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Truy thu của anh Bùi Văn N số tiền 1.900.000 đồng để sung công.
Căn cứ khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Hồng |
Bản án số 116/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (hình sự)
- Số bản án: 116/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Xử phạt Vũ Duy A 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời gian thử thách 16 (mười sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án. - Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường cho chị Dương Thu H số tiền 8.600.000 đồng. Xác nhận bị cáo đã bồi thường cho chị Dương Thu H số tiền 8.600.000 đồng theo Biên lai thu số 0022549 ngày 21/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. - Truy thu của anh Bùi Văn N số tiền 1.900.000 đồng để sung công.
