Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 5 – HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 116/2025/HS-ST

Ngày 12/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Minh Hải, bà Nguyễn Thị Nhiễu.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 12/12/2025 tại Hội trường xét xử - trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 70/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78A/2025/QĐXXST-HS ngày 21/11/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 20/2025/HSST-QĐ ngày 03/12/2025 đối với bị cáo:

- Hoàng Văn H, sinh ngày 07 tháng 7 năm 1985 tại tỉnh Hưng Yên (Trước sáp nhập là tỉnh Thái Bình); Nơi cư trú: Thôn T, xã N, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: Thiên chúa giáo; giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do, trình độ học vấn: 12/12; Con ông Hoàng Bá N (là thương binh) và bà Mai Thị B; Có vợ: Chị Nguyễn Thị S và có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2024;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (Có mặt)

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Trường V, sinh năm 1983, nơi cư trú: thôn C, xã T, tỉnh Hưng Yên. (Vắng mặt)

Người đại diện theo uỷ quyền của chị V: Ông Doãn Đức T, sinh năm 1976, nơi cư trú: Thôn C, xã T, tỉnh Hưng Yên (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Vũ Đình D, sinh năm 1986, nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, xã N, tỉnh Ninh Bình (Vắng mặt)

+ Ông Doãn Đức T, sinh năm 1976, cùng cư trú: Thôn C, xã T, tỉnh Hưng Yên (Có mặt)

2.4. Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1942, cư trú: Thôn C, xã T, tỉnh Hưng Yên (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 19/6/2025, Hoàng Văn H, có giấy phép lái xe hạng A1 do Sở Giao thông công chính thành phố H cấp ngày 30/10/2006, không có nồng độ cồn, không có các chất ma túy trong cơ thể, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 18L1-226.26, nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu sơn trắng đen, dung tích 113cm³ đi từ tỉnh Nghệ An về nhà tại thôn T, xã N, tỉnh Hưng Yên. Đến khoảng 05 giờ 05 phút ngày 20/6/2025, H điều khiển xe mô tô đi đến đoạn đường thuộc địa phận thôn C, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình (nay là thôn C, xã T, tỉnh Hưng Yên), đoạn đường được trải đá nhựa, mặt đường tương đối bằng phẳng, rộng 07m, mặt cống rộng 0,7m, lề đường rộng 2,2m, hai bên đường không có biển báo hiệu giao thông đường bộ, đang thi công theo Hợp đồng thi công xây dựng số 06/2025/HĐXD gói thầu số 07: xây lắp, đảm bảo ATGT và dự phòng thuộc dự án cải tạo, nâng cấp đường Đ kéo dài từ đường ĐT 454 đến đê T, huyện V giữa Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện V và Liên danh Công ty Cổ phần X và Công ty cổ phần X1. H điều khiển xe mô tô theo hướng từ đường 454 về phía đê sông T với tốc độ khoảng 40km/giờ trong điều kiện trời sáng, không mưa, tầm nhìn không bị hạn chế và cho xe đi sát mép đường bên phải theo chiều đi. Lúc này, chị Nguyễn Thị Trường V đi bộ kéo theo xe ba bánh tự chế (dạng xe lôi có tay kéo dài 90cm làm bằng ống kim loại đường kính 2,1cm, phần thùng có kích thước 1,4x90x43cm được bọc tôn kín, mặt trên thùng phía sau bên phải có 01 tủ nhôm kích thước 60x31cm) đi từ đường trục thôn C, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình (nay là thôn C, xã T, tỉnh Hưng Yên), rẽ phải đi ra đường ĐH09 ở phía bên phải theo chiều đi của H. Do không chú ý quan sát, không đảm bảo tốc độ phù hợp điều kiện của đường, không giảm tốc độ hoặc có thể dừng lại một cách an toàn khi điều khiển xe đi trên khu vực đường đang thi công trên đường bộ và khi trên mặt đường có nhiều đất đá rơi vãi ảnh hưởng đến an toàn giao thông đường bộ nên khi phát hiện thấy chị V, H đã không kịp xử lý dẫn đến tai nạn giao thông. Mặt trước ngoài đầu dưới ống giảm sóc trước bên phải; mặt ngoài bên phải đầu trước chắn bùn bánh trước; ốp mặt nạ đầu xe phần bên phải; kính đèn pha trước bên phải của xe mô tô biển số 18L1-226.26 đã va chạm với thân người phía sau bên trái chị V, hất văng chị V về phía đê sông T, nằm ngã nghiêng phải trên mặt cống thoát nước ở bên phải đường. Xe mô tô biển số 18L1-226.26 đổ nghiêng bên trái văng rê trên mặt đường về phía đê sông T, gáo gương chiếu hậu, đầu ngoài tay nắm lái, mặt cánh yếm, đầu ngoài giá để chân trước, chân sau tiếp xúc với mặt đường tạo nên vết cày không liên tục, (ký hiệu 1 trên sơ đồ hiện trường) rồi dừng tại vị trí sát mép đường bên phải theo chiều đi, H bị ngã theo xe nằm trên mặt đường ngay cạnh xe mô tô. Sau đó, H nhờ người dân gọi xe đưa chị V đi cấp cứu. Hậu quả: chị Nguyễn Thị Trường V bị chấn thương sọ não: tụ máu ngoài màng cứng vùng thái dương đỉnh phải và chẩm phải, tụ máu dưới màng cứng thái dương phải, trán hai bên, tụ máu liềm đại não, vỡ xương đá thái dương được đưa đến cấp cứu tại Bệnh viện Đ, sau đó chuyển đến cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện V1 - Hà Nội. Đến ngày 01/7/2025, chị V được chuyển về điều trị tại Bệnh viện Đ; ngày 04/7/2025, chị V được gia đình đưa về nhà điều trị.

Tại Bản Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể trên người sống số 73/2025/KLTTCT-TTPY&GĐYK ngày 28/8/2025 của Trung tâm P và giám định Y khoa, sở Y kết luận : Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Thị Trường V tại thời điểm giám định là : 74% (Bảy mươi tư phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư. Cơ chế hình thành thương tích là do dạng va đập và chà sát với vật cứng hoặc nền cứng gây nên.

Cáo trạng số 20/CT-VKSVT ngày 06/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên đã truy tố bị cáo Hoàng Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.

Đại diện bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho bị hại 150.000.000 đồng, xác nhận bị cáo đã bồi thường được 100.000.000 đồng, yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường tiếp cho bị hại 50.000.000 đồng. Đề nghị khoan hồng hồng cho bị cáo vì bị cáo đã nhận ra sai lầm, đã có ý thức bồi thường để khắc phục một phần thiệt hại cho bị hại và điều kiện hoàn cảnh gia đình có nhiều khó khăn, để nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân khu vực 5 – Hưng Yên giữ nguyên truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Đề nghị căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Hoàng Văn H từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thoả thuận về trách nhiệm bồi thường dân sự giữa bị cáo và bị hại, về việc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho chị V 150.000.000 đồng, bị cáo đã bồi thường 100.000.000 đồng, còn phải tiếp tục bồi thường cho chị V 500.000.000 đồng. Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, tuyên trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe hạng A1, số AB 259669, mang tên Hoàng Văn H; 01 xe mô tô biển số 18L1-226.26, nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, màu sơn trắng đen cùng 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy, số 014306. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo đồng ý với tội danh Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên đã truy tố, không có ý kiến tranh luận và nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất và dược hưởng án treo để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm và tiếp tục lao động tạo ra thu nhập để nuôi 4 con nhỏ và bồi thường cho bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác Cơ quan điều tra thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản tiếp nhận nguồn tin tội phạm; Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường vụ tai nạn giao thông; Biên bản làm việc về việc trích xuất, quản lý, niêm phong USB chứa dữ liệu điện tử liên quan đến vụ tai nạn giao thông tại gia đình bà Trần Thị H1; Biên bản khám nghiệm phương tiện và Bản ảnh khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông; Bản Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể trên người sống số 73/2025/KLTTCT-TTPY&GĐYK ngày 28/8/2025 của Trung tâm P và giám định Y khoa, sở Y, kèm bản ảnh giám định; Bản kết luận giám định số 815/KL-KTHS ngày 18/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh H kèm theo Hình ảnh, diễn biến vụ tai nạn giao thông trong 01 tập tin video; Hợp đồng thi công xây dựng số 06/2025/HĐXD giữa ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện V với Liên danh công ty cổ phần X và Công ty cổ phần X1; Biên bản làm việc tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Đ về kết quả đo nồng độ cồn trong hơi thở của Hoàng Văn H; Giấy chứng nhận thương tích ban đầu tại Bệnh viên đa khoa tỉnh; Bệnh án ngoại khoa của Bệnh viện V1; Bệnh án ngoại khoa của Bệnh viện Đ – Sở Y của chị Nguyễn Thị Trường V; Lời khai của bị hại; Lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; Lời khai của những người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 05 giờ 05 phút ngày 20/06/2025, tại đường Đ thuộc địa phận thôn C, xã T, tỉnh Hưng Yên; Hoàng Văn H có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 18L1-226.26 đã không chú ý quan sát, không đảm bảo tốc độ phù hợp điều kiện của đường, không giảm tốc độ hoặc có thể dừng lại một cách an toàn khi điều khiển xe đi trên khu vực đường đang thi công trên đường bộ và khi trên mặt đường có nhiều đất đá rơi vãi ảnh hưởng đến an toàn giao thông đường bộ nên khi phát hiện thấy chị Nguyễn Thị Trường V đi bộ kéo theo xe ba bánh tự chế (dạng xe lôi) đi từ khu dân cư thôn B, xã T ở phía bên phải theo chiều đi của H theo đường trục thôn đi ra đường ĐH09, H không kịp xử lý đã gây tai nạn cho chị V. Hậu quả: chị V bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ, sau đó chuyển Bệnh viện V1 - Hà Nội cấp cứu và điều trị. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tai nạn giao thông gây nên cho chị V là 74% (Bảy mươi tư phần trăm).

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 2; điểm e, m khoản 3 Điều 12 Luật Trật tự an toàn giao thông đường bộ, hậu quả: gây tổn hại sức khỏe cho 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 74%. Vì vậy, bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Điều 12. Luật Trật tự an toàn giao thông đường bộ, Chấp hành quy định về tốc độ và khoảng cách giữa các xe

................................................................................................................................

2. Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải bảo đảm tốc độ phù hợp điều kiện của cầu, đường, mật độ giao thông, địa hình, thời tiết và các yếu tố ảnh hưởng khác để bảo đảm an toàn.

3. Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải quan sát, giảm tốc độ hoặc dừng lại để bảo đảm an toàn trong các trường hợp sau đây:

e) Khu vực có trường học, bệnh viện, bến xe, công trình công cộng tập trung đông người, khu vực đông dân cư, chợ, khu vực đang thi công trên đường bộ, hiện trường vụ tai nạn giao thông đường bộ;

m) Điều kiện trời mưa, gió, sương, khói, bụi, mặt đường trơn trượt, lầy lội, có nhiều đất đá, vật liệu rơi vãi ảnh hưởng đến an toàn giao thông đường bộ;

Điều 260. Bộ luật Hình sự, T1 vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

................................................................................................................................

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

................................................................................................................................

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

[3] Đánh giá tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi mà bị cáo Hoàng Văn H thực hiện là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm các quy định của Nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại về sức khỏe cho chị Nguyễn Thị Trường V. An toàn giao thông hiện nay đang là vấn đề mà Đảng và Nhà nước ta đặc biệt chú trọng, đã có nhiều chủ trương và biện pháp tích cực để góp phần hạn chế các vụ tai nạn giao thông. Tuy nhiên khi bị cáo điều khiển xe mô tô tham gia giao thông đã không chú ý quan sát, không đảm bảo tốc độ phù hợp điều kiện của đường, không giảm tốc độ hoặc có thể dừng lại một cách an toàn khi điều khiển xe đi trên khu vực đường đang thi công trên đường bộ và khi trên mặt đường có nhiều đất đá rơi vãi ảnh hưởng đến an toàn giao thông đường bộ nên đã gây tai nạn giao thông với chị V, làm chị V bị thương, tỷ lệ tổn thương cơ thể của chị V là 74%. Vì vậy, phải xử phạt bị cáo tương xứng để cải tạo bị cáo và góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung trong xã hội.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo Hoàng Văn H có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo thành khẩn khai báo; tự nguyện bồi thường, khắc phục một phần hậu quả cho bị hại nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có bố đẻ là thương binh, là người có công với Cách mạng; tại phiên toà đại diện bị hại đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo, vì vậy bị cáo được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn nhưng cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội như đề nghị của đại diện viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp.

[6] Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 260 còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Xét thấy bị cáo không có chức vụ, không hành nghề lái xe nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Nguyễn Thị Trường V yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền 150.000.000 đồng, gồm: chi phí khám chữa bệnh: 13.000.000 đồng; tiền thuê xe cấp cứu từ Bệnh viện Đ lên Bệnh viện V1 (cả chiều đi, chiều về): 4.600.000 đồng; tiền bồi thường thu nhập bị mất từ sau khi bị tai nạn 35.000.000 đồng; tiền bồi thường khoản thu nhập của chồng chị bị mất khi nghỉ việc chăm sóc chị tại bệnh viện 10.000.000 đồng (từ ngày 20/6/2025 đến 18/7/2025); tiền bồi thường tổn thất tinh thần, sức khỏe bị xâm hại 70.000.000 đồng và tiền mua thuốc điều trị là 17.400.000 đồng. Tại phiên toà, bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại 150.000.000 đồng. Xét việc thỏa thuận giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp quy định của pháp luật tại Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 Bộ luật Dân sự nên cần ghi nhận sự thoả thuận về trách nhiệm bồi thường dân sự giữa bị cáo và bị hại. Bị cáo H đã bồi thường cho chị V 100.000.000 đồng, bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường cho chị V 50.000.000 đồng.

[8] Về xử lý vật chứng: Kết quả điều tra xác minh 01 xe mô tô biển số 18L1-226.26, nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, màu sơn trắng đen do bị cáo mua lại của anh Vũ Đình D nhưng chưa làm thủ tục sang tên, đổi chủ, là tài sản hợp pháp của bị cáo, cần áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo cùng 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy và 01 Giấy phép lái xe mang tên Hoàng Văn H.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 Bộ luật Dân sự; Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn H 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 12/12/2025.

Giao bị cáo Hoàng Văn H cho Ủy ban nhân dân xã N giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách của án treo, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thoả thuận về trách nhiệm bồi thường dân sự giữa bị cáo và bị hại Nguyễn Thị Trường V: Bị cáo phải bồi thường cho bị hại tổng số tiền là 150.000.000 đồng. Bị cáo đã bồi thường cho chị V được 100.000.000 đồng, bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường cho chị V 5.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị hại có đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền còn phải bồi thường cho bị hại đến khi thi hành án xong, bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và 468 Bộ luật Dân sự năm 2025.

4. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn H: 01 Giấy phép lái xe hạng A1, số AB 259669, mang tên Hoàng Văn H; 01 xe mô tô biển kiểm soát 18L1-226.26, nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, màu sơn trắng đen cùng 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy, số 014306 của xe mô tô biển số 18L1-226.26 mang tên Vũ Đình D.

5. Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Hoàng Văn H, bị hại Nguyễn Thị Trường V, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Doãn Đức T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 12/12/2025). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Vũ Đình D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hưng Yên;
  • - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 -Hưng Yên;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên;
  • - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Hưng Yên;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Hưng Yên;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án;
  • - Lưu HCTР./.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 116/2025/HS-ST ngày 12/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HƯNG YÊN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 116/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Hoàng Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger